So tháng trước, CPI tháng 5 năm 2026 tăng 0,27%, cụ thể:
- 09 nhóm có chỉ số giá tăng: nhóm giáo dục tăng 0,02%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,07%; nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,13%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,16%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,26%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,38%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,39%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,67% và nhóm giao thông tăng 1,06%.
- 02 nhóm có chỉ số giá giảm: nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,06%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,16%.
1. Giá lương thực:
Giá Lương thực giảm 0,17% so tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do nguồn cung gạo trên thị trường ổn định, trong khi nhu cầu tiêu dùng không có nhiều biến động sau kỳ nghỉ lễ. Một số mặt hàng lương thực chế biến như mì ăn liền, bún, phở khô được các siêu thị và cửa hàng tiện lợi triển khai chương trình giảm giá, khuyến mãi nên giá bán lẻ giảm nhẹ. Bên cạnh đó, hoạt động lưu thông hàng hóa thuận lợi và chi phí vận chuyển tương đối ổn định cũng góp phần làm giá nhóm lương thực giảm trong tháng.
Giá bột mì và ngũ cốc giảm 1,17% do một số mặt hàng vào mùa thu hoạch sản lượng nhiều nên giá giảm như khoai lang giảm 2,85%, sắn giảm 0,34%.
Bên cạnh, vẫn có một số mặt hàng tăng giá như: lương thực chế biến tăng 0,53% (bánh mì, phở, mì ăn liền, cháo ăn liền…) do chi phí đầu vào như bột mì, nhiên liệu và nhân công tăng, đồng thời nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm chế biến sẵn tiếp tục duy trì tại khu vực đô thị.
Giá bán các mặt hàng gạo tham gia Chương trình Bình ổn thị trường tháng 5 năm 2026 ở mức:
- Gạo trắng thường 5% tấm là 16.000 đồng/kg (bao bì PP, túi 10kg) và 15% tấm là 15.500 đồng/kg (bao bì PE, túi 5kg).
- Gạo Jasmine: 17.500 đồng/kg (bao bì PP, túi 10kg) và 17.000 đồng/kg (bao bì PE, túi 5kg).
2. Giá thực phẩm:
Giá Thực phẩm giảm 0,34% so tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do nguồn cung rau củ, trái cây và thực phẩm tươi sống đang vào mùa thu hoạch hàng hoá dồi dào:
- Rau tươi, khô và chế biến giảm 0,8% do thời tiết thuận lợi, nhiều loại rau vào vụ thu hoạch sản lượng tăng nên giá giảm.
- Giá một số loại trái cây như xoài giảm 6,86%, táo giảm 0,83% do bước vào mùa thu hoạch.
- Giá trứng các loại giảm 1,35% do nguồn xuất khẩu sang Trung Quốc giảm.
- Giá dầu mỡ ăn và chất béo khác tăng 0,9% do dầu thực vật tăng 1,02%.
Bên cạnh, vẫn có một số mặt hàng tăng giá như:
- Giá chè, cà phê, ca cao tăng 0,53% do giá cà phê bột tăng 1,2%, cà phê, ca cao hòa tan tăng 0,51%, chè búp khô tăng 0,17% do tác động tổng hợp của nhiều yếu tố. Trước hết, nguồn cung từ các vùng nguyên liệu có xu hướng giảm cục bộ do ảnh hưởng của thời tiết không thuận lợi và đang trong giai đoạn chuyển vụ, khiến lượng hàng đưa về thị trường Thành phố hạn chế. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm đồ uống như cà phê, ca cao tại Thành phố Hồ Chí Minh duy trì ở mức cao, đặc biệt trong bối cảnh hoạt động dịch vụ, du lịch và ăn uống tiếp tục sôi động, góp phần làm gia tăng sức cầu. Ngoài ra, giá cà phê và ca cao trên thị trường thế giới có xu hướng tăng cũng tác động lan tỏa, đẩy giá thu mua trong nước đi lên. Cùng với đó, chi phí đầu vào như vận chuyển, nhân công tăng và hoạt động thu mua phục vụ xuất khẩu diễn ra tích cực đã góp phần làm giá nhóm hàng này tăng so với tháng trước;
- Bơ, sữa, phô mai tăng 0,25%, cụ thể, giá sữa chua tăng 1,13% và giá sữa tươi tăng 0,48%, góp phần kéo mặt bằng giá chung của nhóm tăng. Nguyên nhân do nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm dinh dưỡng, đặc biệt là sữa và chế phẩm từ sữa, duy trì ở mức cao. Bên cạnh đó, chi phí đầu vào như nguyên liệu sữa bột nhập khẩu, vận chuyển và bảo quản tăng, cùng với việc một số doanh nghiệp điều chỉnh giá bán nhằm bù đắp chi phí, làm giá các mặt hàng tăng so với tháng trước.
3. Giá một số hàng hóa, dịch vụ khác:
- Vật liệu xây dựng:
So tháng trước, giá bán mặt hàng vật liệu xây dựng tăng từ 1,54% đến 19,85% như cát đen san lấp, cát vàng xây dựng, gạch bê tông,…, riêng xi măng đen PC40, thép cây đốt, tấm lợp tôn,…, giảm từ 0,56% đến 13,6%; trong khi vật liệu xây dựng khác giá ổn định.
- Gas:
Gas trong nước chịu ảnh hưởng bởi thị trường quốc tế.
Tháng 5 năm 2026, giá gas thế giới ở mức 775 USD/tấn, giá không biến động so tháng trước. Tuy nhiên, giá gas trong nước tiếp tục tăng, Cụ thể, giá gas bán lẻ đến tay người tiêu dùng phổ biến ở mức 667.000 đồng/bình 12 kg.
- Xăng, dầu:
Trong tháng báo cáo, giá xăng dầu có 04 lần điều chỉnh, trong đó:
+ Xăng A95 và E5 có 02 lần điều chỉnh tăng (ngày 07 tháng 5 năm 2026 và ngày 21 tháng 5 năm 2026), 02 lần điều chỉnh giảm (ngày 14 tháng 5 năm 2026 và ngày 28 tháng 5 năm 2026).
+ Dầu diesel có 01 lần điều chỉnh tăng (ngày 21 tháng 5 năm 2026), 03 lần điều chỉnh giảm (ngày 07 tháng 5 năm 2026, ngày 14 tháng 5 năm 2026 và ngày 28 tháng 5 năm 2026).
Cuối tháng báo cáo, giá xăng A95 ở mức 23.660 đồng/lít, xăng E5 ở mức 23.250 đồng/lít, dầu diesel ở mức 27.650 đồng/lít.
So tháng trước, giá xăng A95 tăng 780 đồng/lít, xăng E5 tăng 1.420 đồng/lít, dầu diesel tăng 960 đồng/lít.