So tháng trước, CPI tháng 9 tăng 0,45%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 03 nhóm giảm, giảm nhiều nhất là nhóm giao thông (2,86%); 08 nhóm còn lại đều tăng, tăng cao nhất là nhóm giáo dục (4,85%), cụ thể:
- 03 nhóm có chỉ số giá giảm: nhóm giao thông giảm 2,86%, nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,79% và nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,53%.
- 08 nhóm có chỉ số giá tăng: nhóm giáo dục tăng 4,85%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,82%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,6%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,51%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,47%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,28%; nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,2%; cuối cùng là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,11%.
1. Giá lương thực:
Giá lương thực tăng 0,4% so tháng trước, trong đó lương thực chế biến tăng 1,28%, bột mỳ và ngũ cốc khác tăng 1,23%, gạo tẻ ngon tăng 0,25%.
Giá bán các mặt hàng gạo tham gia Chương trình Bình ổn thị trường trong tháng 9 ổn định ở mức:
- Gạo trắng thường 5% tấm là 17.500 đồng/kg (không bao bì) và 18.500 đồng/kg (bao bì PE, túi 5kg).
- Gạo Jasmine: 19.000 đồng/kg (không bao bì) và 20.000 đồng/kg (bao bì PE, túi 5kg).
2. Giá thực phẩm:
Chỉ số giá nhóm Thực phẩm tăng 0,64% so tháng trước, nguyên nhân chủ yếu tập trung ở một số mặt hàng sau:
- Giá thịt gia súc tăng 0,47% do giá thức ăn chăn nuôi tăng cao và do nguồn cung thiếu hụt. Theo đó, giá thịt chế biến tăng 0,76%, trong đó: giá thịt hộp tăng 1,67%, giá thịt quay, giò, chả tăng 0,63%.
- Giá thủy sản tươi sống tăng 0,96% do nguồn cung giảm vì thời tiết không thuận lợi. Theo đó, giá thủy sản chế biến tăng 0,38% so tháng trước.
- Giá các loại đậu và hạt tăng 0,67%; giá rau tươi, khô và chế biến tăng 1,73%; giá quả tươi, chế biến tăng 0,5%. Nguyên nhân do ảnh hưởng của bão Yagi, thời tiết nhiều mưa đã ảnh hưởng đến sản lượng và nhu cầu thị trường tăng do tăng cường cung cấp cho các tỉnh phía Bắc.
- Giá nước mắm, nước chấm tăng 0,76%; giá chè, cà phê, ca cao tăng 3,03%; giá dầu thực vật tăng 0,78%; giá sữa, bơ, phô mai tăng 0,29%; giá bánh, mứt, kẹo tăng 0,1%. Nguyên nhân do chi phí nguyên liệu đầu vào và nhu cầu thị trường tăng.
Ở chiều ngược lại, một số mặt hàng giảm giá như:
- Giá trứng các loại giảm 0,83% do nhu cầu thị trường giảm sau Tết Trung thu.
- Giá thịt gia cầm giảm 0,8% do nhu cầu giảm sau dịp Lễ Quốc Khánh.
- Giá đồ gia vị giảm 0,39%, giá đường mật giảm 1,04%.
3. Giá một số hàng hóa, dịch vụ khác:
- Vật liệu xây dựng:
So tháng trước, giá bán mặt hàng vật liệu xây dựng đa số tăng giảm nhẹ như xi măng, thép các loại, cát xây dựng, sơn tường ngoài nhà, gạch xây, bả bột trát tường, ... giảm; trong khi đá dăm, sơn tường trong nhà, tấm lợp, ngói lợp, ... tăng do nhu cầu gia cố nhà vào mùa mưa, trong đó gạch lát nền Trung Quốc loại bóng trơn tăng nhiều với mức 10.000 đồng/m2 (5,75%), riêng gạch bê tông giá ổn định so tháng trước.
- Gas:
Gas trong nước chịu ảnh hưởng bởi thị trường quốc tế.
Ngày 01 tháng 9 năm 2024, giá gas thế giới ở mức 600 USD/tấn, tăng 20 USD/tấn so tháng trước. Theo đó, giá gas tháng 9 điều chỉnh tăng 7.000 đồng/bình 12kg so tháng trước. Cụ thể, giá gas bán lẻ đến tay người tiêu dùng phổ biến ở mức 436.000 - 460.000 đồng/bình 12 kg.
- Xăng, dầu:
Trong tháng báo cáo giá xăng dầu có 04 lần điều chỉnh, trong đó có 03 lần giảm (ngày 05 tháng 9 năm 2024, ngày 12 tháng 9 năm 2024, ngày 19 tháng 9 năm 2024) và 01 lần tăng (ngày 26 tháng 9 năm 2024).
Cuối tháng báo cáo: giá xăng A95 ở mức 20.510 đồng/lít, xăng E5 ở mức 19.620 đồng/lít; mặt hàng dầu hỏa và dầu diesel lần lượt ở mức 17.870 đồng/lít và 17.500 đồng/lít.
So tháng trước, giá xăng A95 giảm 550 đồng/lít, xăng E5 giảm 710 đồng/lít; mặt hàng dầu hỏa giảm 1.190 đồng/lít và dầu diesel giảm 970 đồng/lít.