- Trong tuần, giá thịt heo đứng hoặc tăng; giá
nhiều mặt hàng thuỷ hải sản và rau, củ tăng, giảm tuỳ loại.
- Giá vàng và tỷ giá đô la Mỹ cùng diễn biến theo hướng giảm.
Diễn biến cụ thể:
1./ Giá vàng và Đôla Mỹ
:
- Giá vàng
thị trường thế giới tăng cao 905USD/ounce vào ngày 23/9/2009 nhưng giảm dần
vào những ngày kế tiếp. Sáng ngày 29/9/2008, giá vàng thế giới là
872USD/ounce, tăng 5,55USD/ounce (0,6%) so cuối tuần trước. Tại thành phố, giá
vàng diễn biến theo giá vàng thế giới, hiện giá vàng 999,9 của các Công ty
Vàng bạc đá quý từ 1.787.000-1.795.000đ/chỉ, tăng 12.000-15.000đ/chỉ
(0,7%-0,8%). Giá vàng trong nước hiện cao hơn giá vàng thế giới khoảng
19.000-27.000đ/chỉ (đã tính thuế và phí).
- Trong tuần, tỷ giá đô la Mỹ của thị trường
Liên ngân hàng tăng, giảm nhẹ, ngày 29/9/2008 ở mức 16.516đ/USD, đứng so cuối
tuần trước; trong khi giá mua, bán của các ngân hàng thương mại giảm mạnh,
hiện Ngân hàng Ngoại thương mua tiền mặt 16.540đ/USD (-110đ/USD), mua chuyển
khoản 16.580đ/USD (-120đ/USD), bán 16.620đ/USD (-130đ/USD).
- Trên thị trường tư nhân, tỷ giá đô la Mỹ cũng diễn biến theo hướng giảm, hiện
ở mức: mua 16.540đ/USD, bán 16.600đ/USD, giảm 110-180đ/USD so với tuần trước.
- Lượng thịt heo về các chợ đầu mối nông sản thực phẩm Hóc Môn
và Bình Điền bình quân 390tấn/ngày, tăng 12tấn/ngày so tuần trước. Giá heo các
loại đứng hoặc tăng 1.000-2.000đ/kg: giá heo hơi ở mức 36.000đ/kg heo trại,
32.000đ/kg heo mỡ, giá heo bên từ 43.000-49.000đ/kg, giá bán sỉ thịt heo
đùi 55.000-57.000đ/kg, ba rọi 56.000-63.000đ/kg, nạc 56.000-64.000đ/kg.
Giá bán lẻ thịt heo đùi tại các chợ đứng 62.000-69.000đ/kg.
- Tại chợ
An Lạc, giá bán trứng vịt tăng 100đ/quả lên 1.800đ/quả, trứng gà đứng ở mức
1.500đ/quả.
Thủy hải sản :
Tại chợ đầu mối Bình điền,
lượng thủy hải sản tươi tăng 23 tấn/ngày (4,7%) so tuần trước, lên
517tấn/ngày. Do ảnh hưởng của bão, lượng hàng về ít, nên giá một số mặt hàng
như cá ngân, cá thu, cá bạc má, cá kèo, cá tra, mực ống, mực lá, ốc bươu… tăng
1.500 – 7.000đ/kg (5%-25%), riêng cá nục và cá ngừ tăng 5.000-6.000đ/kg
(28%-50%) lên lần lượt là 18.000-23.000đ/kg và 17.000-27.000đ/kg trong khi một
số mặt hàng giá giảm do bán chậm như cá chẻm giảm 5.000đ/kg còn
35.000-45.000đ/kg, cá diêu hồng giảm 1.000đ/kg còn 25.000-32.000đ/kg, tôm sú
về chợ nhiều dội hàng giảm 8.000đ/kg còn 65.000-90.000đ/kg, sò lông, sò huyết
giảm 1.000đ/kg còn lần lượt là 19.000đ/kg và 24.000đ/kg. Lượng thủy hải sản
khô về chợ tăng 0,9tấn/ngày (6,5%) lên 14,7tấn/ngày, giá đứng ở mức tuần
trước.
Rau, củ , quả :
- Lượng rau quả về các chợ đầu mối bình quân
4.842tấn/ngày giảm 41,4tấn/ngày (0,8%) so tuần trước. Các mặt hàng rau củ, rau
lá do ảnh hưởng trời mưa nhiều dễ bị hư, dập nên giá một số loại rau như bầu,
bí đao, cải bẹ xanh, cải ngọt, khổ qua, gừng nội địa…tăng 200-1.200đ/kg
(1,7%-9,5%) riêng xà lách lụa lượng hàng về chợ không nhiều nhưng lại tiêu thụ
mạnh nên giá tăng cao 1.500đ/kg (30%) lên 6.500đ/kg trong khi giá xà lách
Pháp, củ cải, đậu côve, tỏi Trung Quốc…giảm 400-800đ/kg (7,7%-11,8%) riêng cải
thảo giảm 1.700đ/kg (26,2%) còn 4.800đ/kg, su su giảm 700đ/kg (25,9%) còn
2.000đ/kg.
-
Giá bán nhiều loại trái cây như táo Trung Quốc, chôm chôm thường, lồng mứt,
mãng cầu tròn, nho đỏ Phan Rang, nho Mỹ…giảm 200-2.000đ/kg (1,8%-14,3%) trong
khi giá quýt đường tăng 500đ/kg lên 17.500đ/kg, hồng Đà Lạt tăng 1.000đ/kg lên
10.000đ/kg.
3./ Giá vật tự và hàng tiêu dùng khác :
- So tuần
trước, giá bán nhiều mặt hàng máy vi tính tăng nhẹ khoảng 0,8%/máy riêng giá
máy COMPAQ – HP 6520S (080) tăng 424.000đ/máy (3,8%) lên 11.690.000đ/máy
trong khi một số mặt hàng máy vi tính khác giảm giá từ 135.000-733.000đ/máy
(1,1%-5,3%) như giá NEC VERSA S5501 1803DRC là 15.054.000đ/máy
(-217.000đ/máy), TOSHIBA L200-N407 là 11.084.000đ/máy (-349.000đ/máy)...riêng
các mặt hàng máy vi tính ACER giảm giá mạnh từ 873.000-1.533.000đ/máy (5%-8%)
như giá ACER ASPRIRE (014) 4920-302G16Mi là 15.794.000đ/máy(-879.000đ/máy),
ACER ASPRIRE (033) 4920G-302G16Mn là 17.644.000đ/máy (-1.533.000đ/máy)…
- Giá bán
một số phụ tùng xe gắn máy, xe đạp tăng 2.000-8.000đ (3,3%-16%) như nhông nhỏ
13 răng là 19.000đ/cái (2.000đ/cái), bạc đạn 6304 là 58.000đ/cặp
(+8.000đ/cặp), vỏ Đồng Nai trắng 2.25 là 90.000đ/cái (+4.000đ/cái)…riêng giá
vỏ CASUMINA xe FUTURE 2.75, 6 lớp bố tăng 22.000đ/cái lên 132.000đ/cái; ruột
Đồng Nai 650 và ruột mini xe đạp cùng tăng 1.000đ/cái lên đồng giá
11.000đ/cái.
- Giá xi
măng đứng hoặc tiếp tục tăng 1.100-2.500đ/bao, giá xi măng Hà tiên 1 ở mức
73.000-75.000đ/bao, cao nhất 78.000đ/bao tại quận Tân Phú; xi măng Holcim, Sao
Mai 72.000-77.000đ/bao.
- Ngày 23/9/2008 Tổng Công ty Thép Việt Nam tiếp tục điều chỉnh
giảm 800đ/kg (khoảng 5%) đối với thép cuộn và thép tròn trơn, giảm 800-900đ/kg
(5,4-5,5%) đối với thép thanh so với lần điều chỉnh trước (ngày 16/8/2008) và
ngày 26/9/2008 điều chỉnh giảm 1.367-1.620đ/kg (8,2-8,4%) đối với thép tấm lá.
Đây là lần điều chỉnh giảm giá lần thứ 4 trong tháng 9, hiện giá bán (chưa
thuế VAT) thép cuộn
Æ6
CT3 là 14.550đ/kg,
Æ7-Æ20
là 14.450đ/kg, thép thanh vằn
Æ10
CT5-SD295 là 15.310đ/kg, thép hình CT3 là 14.820đ/kg (giao tại nhà máy).
- Giá
thép trên thị trường tiếp tục giảm 1.000đ/kg ở nhiều nơi, giá thép cuộn
Æ6
là 16.000-17.600đ/kg, thép cây vằn
Æ10
là 17.500đ/kg.