Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 năm 2023 tăng 0,04% so tháng trước.
1. Giá lương thực:
Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 0,15% so tháng trước, chủ yếu do giá gạo thường, bột mì, ngô và một số lương thực chế biến tăng giá; trong khi gạo tẻ ngon, bún tươi, miến dong giảm.
So tháng 12 năm 2022, nhóm lương thực tăng 0,43% (cùng kỳ năm 2021 tăng 0,72%) chủ yếu một số mặt hàng gạo, bột mì, bánh đa, ngũ cốc tăng, trong khi nếp, bánh phở, sắn tươi giảm.
Giá bán các mặt hàng gạo tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Quý Mão năm 2023 hiện ở mức:
- Gạo trắng thường 5% tấm là 14.500đ/kg (không bao bì) và 15.500đ/kg (bao bì PA/PE, túi 5kg, 10kg, 25kg).
- Gạo Jasmine: 15.500đ/kg (không bao bì) và 17.000đ/kg (bao bì PA/PE, túi 5kg).
2. Giá thực phẩm:
Chỉ số giá thực phẩm giảm 0,63% so tháng trước, chủ yếu chịu tác động bởi giá các mặt hàng như:
+ Giá thịt gia súc giảm 0,71%, thịt gia cầm giảm 0,19%, trứng các loại giảm 2,18%, dầu mỡ và chất béo giảm 0,58%.
+ Giá thủy sản tươi sống giảm 0,69%, thủy sản chế biến giảm 0,22% do điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc đánh bắt đảm bảo nguồn cung ứng.
+ Giá rau tươi, khô và chế biến giảm 3,20% so tháng trước; quả tươi và chế biến giảm 0,27% do yếu tố thời vụ, thời tiết thuận lợi nên nguồn cung dồi dào.
Ở chiều ngược lại, do nhu cầu thị trường và giá nguyên liệu đầu vào, chi phí dịch vụ tăng làm cho giá một số nhóm mặt hàng tăng so với tháng trước, cụ thể: giá đồ gia vị tăng 1,63%; đường mật tăng 0,58%; nước mắm, nước chấm tăng 7,77%; sữa, bơ, phô mai và bánh, mứt, kẹo tăng 0,41%; chè, cà phê, ca cao tăng 0,46%.
So tháng 12 năm 2022, nhóm thực phẩm giảm 0,35% (cùng kỳ năm 2021 giảm 0,48%) chủ yếu do một số mặt hàng thịt heo giảm 2,37%-5,13% do người tiêu dùng giảm thu nhập nên giảm nhu cầu, rau củ quả giảm mạnh 7,84%-21,44% do nguồn cung dồi dào; trong khi giá thủy sản tăng 2,76%-10,98%, gia vị tăng 2,45%-8,08%.
- Thịt heo:
Trong tháng báo cáo, giá heo hơi giảm mạnh do nhu cầu tiêu thụ giảm mạnh vì ảnh hưởng từ khó khăn kinh tế khiến người tiêu dùng giảm chi tiêu, tiêu thụ thịt heo ở các khu công nghiệp, bếp ăn tập thể giảm do nhiều công ty cắt giảm lao động.
Tại thời điểm báo cáo (ngày 21 tháng 3 năm 2023) giá thịt heo nhìn chung giảm so tháng trước. Giá heo hơi giảm 5.000đ/kg so tháng trước, heo hơi loại 1 hiện ở mức 52.000đ/kg và heo hơi loại 2 ở mức 48.000đ/kg. Giá heo bên giảm 8000-15.000đ/kg so tháng trước, heo bên loại ngon giảm 5.000đ/kg ở mức 63.000đ/kg, heo bên loại thường giảm 8.000đ/kg xuống 56.000đ/kg; so tháng trước, thịt đùi, thịt cốt lếch, nạc dăm, chân giò, ba rọi giảm.
Giá bán sỉ heo pha lóc các loại tại chợ đầu mối Hóc Môn hiện ở mức: thịt đùi rọ 63.000đ/kg, sườn non 120.000đ/kg, cốt lết 60.000đ/kg, nạc dăm 80.000đ/kg, chân giò 58.000đ/kg, ba rọi 100.000đ/kg.
Giá bán lẻ các mặt hàng thịt heo đa số giảm từ 2,72%-3,39% so tháng trước.
Căn cứ tiêu chí của Chương trình bình ổn thị trường mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu ban hành tại Quyết định số 898/QĐ-UBND ngày 29 tháng 3 năm 2022; ngày 17 tháng 3 năm 2023, giá thịt heo pha lóc điều chỉnh giảm từ 1.500-14.000đ/kg, tương đương giảm 1,82%-10,29%; mức giá điều chỉnh áp dụng kể từ ngày 18 tháng 3 năm 2023.
Theo đó, giá bán các mặt hàng thịt gia súc tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Quý Mão năm 2023 ổn định ở mức: thịt heo đùi 110.000đ/kg, thịt vai 136.000đ/kg, thịt cốt lết 135.000đ/kg, chân giò 122.000đ/kg, thịt nách 128.000đ/kg, thịt nạc (vai, đùi) 165.000đ/kg, xương đuôi heo 107.500đ/kg, xương bộ heo 77.500đ/kg.
- Thịt gia cầm:
Tại chợ đầu mối Bình Điền, lượng hàng về chợ dao động từ 7,1-7,4 tấn/ngày, tăng 9,4% so tháng trước, sức mua tăng nhẹ so tháng trước.
Giá bán sỉ các mặt hàng gia cầm ổn định so tháng trước. Hiện ở mức: cánh gà nhập khẩu 60.000đ/kg, gà tam hoàng nguyên con 63.000đ/kg, gà công nghiệp nguyên con 40.000đ/kg, vịt nguyên con 60.000đ/kg; đùi gà nhập khẩu ở mức 45.000đ/kg.
Giá bán lẻ các mặt hàng gia cầm tăng giảm so tháng trước; trong đó, giá thịt gia cầm tươi sống (thịt nóng) tăng, thịt gia cầm nhập khẩu giảm.
Giá các mặt hàng thịt gia cầm tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Quý Mão năm 2023 ổn định ở mức: thịt gà ta 90.000đ/kg, thịt gà thả vườn 67.000đ/kg, thịt gà công nghiệp nguyên con 45.000đ/kg, thịt vịt 68.000đ/kg, đùi gà công nghiệp góc tư 42.000đ/kg (Ba Huân), ức gà công nghiệp 42.000đ/kg (Ba Huân), phi lê ức gà 55.000đ/kg (Long Bình), cánh gà 70.000đ/kg (Long Bình).
- Trứng gia cầm:
Trên thị trường, giá bán lẻ mặt hàng trứng gà ta không đóng hộp, trứng gà công nghiệp giảm 3,9%-5% so tháng trước; so tháng 12 năm 2022, giảm 5,14%-8,13%; hiện phổ biến ở mức: giá trứng gà loại 1 ở mức 31.000-34.000đ/chục, trứng vịt loại 1 ở mức 37.000-41.000đ/chục.
Giá các mặt hàng trứng gia cầm tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Quý Mão năm 2023, ổn định ở mức: trứng gà loại 1 là 33.500đ/vĩ, giá trứng vịt loại 1 là 38.500đ/vĩ.
- Thủy hải sản:
Lượng thủy hải sản tươi bình quân 1090-1095 tấn/ngày, tăng 10% so tháng trước.
So tháng trước, giá bán buôn nhiều mặt hàng thủy hải sản tăng giảm từ 5.000-10.000đ/kg như cá thu, cá bóp, cá ngân, tôm, sò, ốc.......giảm do nguồn cung dồi dào; trong khi giá các mặt hàng như cá kèo,ốc hương, mực ống,..... tăng; giá các loại cá nhập khẩu ổn định so tháng trước như cá nục bông, cá thu Nhật, cá hồi, mực ống Đài Loan.
So tháng trước, giá bán lẻ các mặt hàng thủy hải sản tươi sống tăng giảm tương tự giá bán buôn, tập trung tăng giá ở các mặt hàng như cá biển, cá lóc, cá điêu hồng, tôm, mực, riêng giá các loại thả nuôi như cá trê, ếch đồng, tép giảm so tháng trước.
Lượng thủy hải sản khô về chợ từ 4,7-5,1 tấn/ngày, tăng 8,5% so tháng trước, giá bán buôn các mặt hàng thủy hải sản khô ổn định so tháng trước.
- Rau, củ, quả, trái cây:
Lượng rau củ quả về chợ đầu mối Bình Điền dao động từ 977-987tấn/ngày, chợ đầu mối Hóc Môn dao động từ 1.678-1.801tấn/ngày, chợ đầu mối Thủ Đức dao động từ 2.547-2.869tấn/ngày.
So tháng trước, giá bán buôn nhiều loại rau, củ, trái cây tăng giảm phổ biến từ 3.000-5.000đ/kg như cải thảo, cải xanh, bông cải, đậu cove, đậu bắp, mướp, khổ qua, dưa leo, cam, bưởi, quýt, đu đủ giảm; trong khi tần ô, xà lách, cà chua, dưa hấu, xoài, nấm tăng so tháng trước.
So tháng trước, giá bán lẻ bình quân tháng báo cáo các mặt hàng rau, củ quả, trái cây đa số tăng giảm tương tự giá bán buôn; trong đó, cà chua, bí đỏ, măng, chuối, xoài, dưa hấu, thanh long tăng, bắp cải, bí xanh, cà rốt, su hào, khoai tây, khổ qua, dưa leo, cải ngọt, quýt, bưởi..... giảm so tháng trước.
3. Giá một số hàng hóa, dịch vụ khác:
- Vật liệu xây dựng:
Giá bán mặt hàng vật liệu xây dựng đa số tăng do giá nguyên liệu sản xuất đầu vào tăng như xi măng tăng 0,18%-0,77%; thép xây dựng tăng 3,29%-4,58%; cát xây dựng tăng 2,87%-5,83%; gạch xây các loại tăng 0,53%-6,59%; tấm lợp tăng 0,29%; các mặt hàng còn lại ổn định so tháng trước.
So tháng 12 năm 2022, giá các mặt hàng vật liệu xây dựng như xi măng tăng 0,77%-2,54%; thép xây dựng tăng 5,07%-7,15%; gạch xây, gạch ống tăng 1,12%; trong khi gạch lát nền giảm 1%, ngói lợp giảm 15,66%.
- Gas:
Ngày 01 tháng 02 năm 2023, giá gas thế giới giảm 60 USD/tấn so tháng trước, hiện ở mức 730USD/tấn. Theo đó, kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2023, giá bán lẻ gas trong nước cũng đã điều chỉnh giảm khoảng 16.000đ/bình 12 kg so với tháng trước.
Cụ thể, giá gas bán lẻ đến tay người tiêu dùng 465.000 đồng/bình 12kg.
Đây là tháng thứ hai trong năm 2023 giá gas giảm với tổng mức 39.000 đồng/bình 12kg.
So tháng trước, giá gas giảm 3,19%; so tháng 12 năm 2022, giá gas tăng 6,26%.
- Xăng, dầu:
Trong tháng báo cáo giá xăng dầu được điều chỉnh 03 lần, cụ thể:
+ Lần 01: ngày 01 tháng 3 năm 2023, giá xăng các loại giảm 120đ/lít, xăng A95 ở mức 23.320đ/lít, xăng E5 ở mức 22.420đ/lít; mặt hàng dầu hỏa giảm 370đ/lít và dầu diesel giảm 550đ/lít, lần lượt ở mức 20.470đ/lít và 20.250đ/lít.
+ Lần 02: ngày 13 tháng 3 năm 2023, giá xăng các loại tăng 380-490đ/lít, xăng A95 ở mức 23.810đ/lít, xăng E5 ở mức 22.800đ/lít; mặt hàng dầu hỏa tăng 240đ/lít và dầu diesel tăng 250đ/lít, lần lượt ở mức 20.710đ/lít và 20.500đ/lít.
+ Lần 03: ngày 21 tháng 3 năm 2023, giá xăng các loại giảm 780đ/lít, xăng A95 ở mức 23.030đ/lít, xăng E5 ở mức 22.020đ/lít; mặt hàng dầu hỏa giảm 1250đ/lít và dầu diesel giảm 120đ/lít, lần lượt ở mức 19.460đ/lít và 19.300đ/lít.
Sau số lần điều chỉnh trong 3 tháng đầu năm, giá xăng giảm 11,34% so cùng kỳ năm 2022.
So tháng 12 năm 2022, giá xăng tăng 7,82%-7,86%, giá dầu diesel giảm 10,18%.