Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 năm 2022 giảm 0,07 so tháng trước (tháng 12 năm 2021 giảm 0,3%).
1. Giá lương thực:
So tháng trước, chỉ số giá nhóm lương thực tăng 0,56% do giá bột mì tăng 0,18%, ngũ cốc tăng 0,65%, bún tươi và bánh phở tăng 0,18-0,91%, nhóm lương thực chế biến tăng 0,35-4,4% do giá nguyên vật liệu và nhu cầu tăng.
So tháng 12 năm 2021, chỉ số giá nhóm lương thực tăng 4,74%, chủ yếu giá gạo các loại tăng 0,85%-5,28%; ngô tươi tăng 7,33%; lương thực chế biến tăng 0,55%-18,51%; khoai lang, sắn giảm 0,79-8,29%....Nhìn chung, chỉ số giá nhóm lương thực trong năm đa số theo xu hướng tăng chủ yếu do giá các mặt hàng gạo, bột mì, bột ngô…do ảnh hưởng thời tiết và giá nguyên liệu đầu vào, chi phí nhân công tăng.
Giá bán các mặt hàng gạo tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Qúy Mão năm 2023 hiện ở mức:
- Gạo trắng thường 5% tấm là 14.500đ/kg (không bao bì) và 15.500đ/kg (bao bì PA/PE, túi 5kg, 10kg, 25kg).
- Gạo Jasmine: 15.500đ/kg (không bao bì) và 17.000đ/kg (bao bì PA/PE, túi 5kg).
2. Giá thực phẩm:
So tháng trước, chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,53% (tháng 12 năm 2021 giảm 0,45%) chủ yếu chịu tác động bởi giá các mặt hàng như:
+ Giá thịt gia cầm tăng 0,86% so tháng trước do nhu cầu tăng và các chương trình khuyến mãi kết thúc.
+ Thịt chế biến tăng 0,99% so tháng trước do giá vịt quay, chả giò điều chỉnh tăng giá.
+ Trứng các loại tăng 0,54% so với tháng trước do nhu cầu tăng cao.
+ Giá thủy sản tươi sống tăng 0,22% so với tháng trước; thủy sản chế biến tăng 0,88% do nguồn cung giảm và nhu cầu thị trường tăng.
+ Giá rau tươi, khô và chế biến tăng 4,23% so tháng trước, trong đó: rau muống tăng 16,24%, đỗ tăng 10,74%, rau dạng quả, củ tăng 7,56%. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu sản xuất dưa món phục vụ Tết.
+ Giá nước mắm, nước chấm tăng 0,74% so với tháng trước; đường mật tăng 0,57%; sữa, bơ, phô mai tăng 0,02%; bánh, mứt, kẹo tăng 0,05%; chè, cà phê, ca cao tăng 0,43% do hết chương trình khuyến mãi tại một số cửa hàng và siêu thị, thêm vào đó là giá nguyên liệu tăng cao.
Ở chiều ngược lại, một số mặt hàng giảm giá:
+ Giá thịt gia súc giảm 0,86% so tháng trước, trong đó thịt heo giảm 1,57%, thịt bò giảm 0,02% do nguồn cung dồi dào. Thịt heo đông lạnh nhập khẩu với số lượng lớn và mức giá thấp cũng tác động đến giá thịt heo.
+ Quả tươi, chế biến giảm 0,33% so tháng trước, đồ gia vị giảm 0,44% do các chương trình khuyến mãi cuối năm.
So tháng 12 năm 2021, chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 2,48%, chủ yếu do tác động của một số mặt hàng như thịt gia cầm tăng 3,48%-10,77%; thịt bò tăng 1,77%; thực phẩm chế biến tăng 2,73%-10,94%; trứng gia cầm tăng 19,12%-29,14% ; dầu ăn tăng 3,46%-20,47% do giá nguyên liệu nhập khẩu tăng mạnh; thủy hải sản tươi sống tăng 2,56%-8,86%; trái cây các loại tăng 4,07%-15,77%; các mặt hàng rau củ quả tăng 4,28%-12,47%....các mặt hàng còn lại biến động không đáng kể.
- Thịt heo:
Tại thời điểm báo cáo (ngày 21 tháng 12 năm 2022) giá heo hơi loại 1 ở mức 58.500đ/kg và heo hơi loại 2 ở mức 54.500đ/kg. Giá heo bên tăng 1.000đ/kg so tháng trước, heo bên loại ngon ổn định ở mức 69.000đ/kg, heo bên loại thường tăng 1.000đ/kg lên 63.000đ/kg; so tháng trước, giá thịt cốt lếch, nạc dăm, giò trước tăng 2.000kg, giá các loại khác ổn định. Giá bán sỉ heo pha lóc các loại tại chợ đầu mối Hóc Môn hiện ở mức: thịt đùi rọ 65.000đ/kg, sườn non 120.000đ/kg, cốt lết 65.000đ/kg, nạc dăm 85.000đ/kg, chân giò 57.000đ/kg, ba rọi 100.000đ/kg.
Giá bán lẻ thịt heo các loại giảm 0,4%-0,92% so tháng trước và tăng 0,3%-3,44% so tháng 12 năm 2021, riêng thịt ba chỉ giảm 0,01%. Tuy nhiên đến thời điểm hiện nay, dịch tả lợn và heo tai xanh ảnh hưởng đến nguồn cung trên thị trường cùng với thời điểm Tết nguyên đán gần kề nên nhu cầu tiêu thụ của người tiêu dùng tăng trở lại, do đó, giá bán đang có xu hướng tăng.
Giá bán các mặt hàng thịt gia súc tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Quý Mão năm 2023 ổn định ở mức: thịt heo đùi 110.000đ/kg, thịt vai 136.000đ/kg, thịt cốt lết 135.000đ/kg, chân giò 122.000đ/kg, thịt nách 128.000đ/kg, thịt nạc (vai, đùi) 165.000đ/kg, xương đuôi heo 107.500đ/kg, xương bộ heo 77.500đ/kg.
- Thịt bò:
So tháng trước, giá bán lẻ mặt hàng thịt bò các loại giảm 2.000đ/kg (0,42-0,86%); trong đó thịt bò thăn loại 1 giảm 0,42%, thịt bò mông giảm 0,6%, thịt bò bắp tăng 0,13%, thịt bò thăn đông lạnh giảm 0,86%.
So tháng 12 năm 2021, giá thịt bò các loại giảm 3.000-6.000đ/kg (1,24-3,61%); trong đó thịt bò thăn loại 1 giảm 2,39%, thịt bò mông giảm 1,24%, thịt bò bắp tăng 1,77%, thịt bò thăn đông lạnh giảm 3,61%.
- Thịt gia cầm:
Tại chợ đầu mối Bình Điền, lượng hàng về chợ dao động từ 8,2-9,9 tấn/ngày, tăng 17% so tháng trước, sức mua tăng so tháng trước.
Giá bán sỉ các mặt hàng gia cầm tăng giảm 3.000-10.000đ/kg so tháng trước, trong đó: giá cánh gà, chân gà, gà công nghiệp nguyên con, vịt nguyên con tăng; giá đùi gà, bẹ gà giảm, gà tam hoàng ổn định so tháng trước. Hiện ở mức: cánh gà nhập khẩu 60.000đ/kg, gà tam hoàng nguyên con 63.000đ/kg, gà công nghiệp nguyên con 40.000đ/kg, vịt nguyên con 60.000đ/kg; đùi gà nhập khẩu ở mức 45.000đ/kg.
Giá bán lẻ các mặt hàng gia cầm ổn định so tháng trước.
Giá các mặt hàng thịt gia cầm tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Quý Mão năm 2023 ổn định ở mức: thịt gà ta 90.000đ/kg, thịt gà thả vườn 67.000đ/kg, thịt gà công nghiệp nguyên con 45.000đ/kg, thịt vịt 68.000đ/kg, đùi gà công nghiệp góc tư 42.000đ/kg (Ba Huân), ức gà công nghiệp 42.000đ/kg (Ba Huân), phi lê ức gà 55.000đ/kg (Long Bình), cánh gà 70.000đ/kg (Long Bình).
- Trứng gia cầm:
Trên thị trường giá bán lẻ mặt hàng trứng gia cầm đang có xu hướng tăng nhẹ, cụ thể tại một số khu vực tại thành phố Thủ Đức, Quận 3, 4, 6, 8, 11, huyện Nhà Bè có biến động tăng từ 2.000-3.000đ/chục.
Giá trứng gia cầm tại các hệ thống siêu thị không phải điểm bán bình ổn thị trường cũng diễn biến tương tự, giá trứng gà loại 1 dao động ở mức 38.000-40.000đ/chục; giá trứng vịt loại 1 dao động ở mức 40.000-45.000đ/chục.
Giá bán mặt hàng trứng gia cầm tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Quý Mão năm 2023 hiện nay ở mức: trứng gà loại 1 là 33.500đ/vĩ, giá trứng vịt loại 1 là 38.500đ/vĩ.
- Thủy hải sản:
Lượng thủy hải sản tươi bình quân 1.110-1.290 tấn/ngày, tăng 5% so tháng trước.
So tháng trước, giá bán buôn nhiều mặt hàng thủy hải sản tăng giảm từ 4%-28% như cá bác má, cá bớp, cá chẽm, cá hú, cá trên, cá lóc, lươn, cua, sò..... giảm do nguồn cung dồi dào; trong khi giá các mặt hàng như cá thu, cá nục, cá điêu hồng, cá kèo, tôm, mực..... tăng; giá các loại cá nhập khẩu tăng 5% so tháng trước như cá nục bông, riêng cá thu Nhật, cá hồi ổn định so tháng trước.
Giá bán lẻ các mặt hàng thủy hải sản tươi sống tăng giảm 5.000-10.000đ/kg so tháng trước, tập trung tăng giá ở các mặt hàng như cá thu, cá điêu hồng, tôm, mực, riêng giá các loại thả nuôi như cá lóc, cá trê, ếch đồng giảm so tháng trước.
Lượng thủy hải sản khô về chợ từ 4,7- 7,1 tấn/ngày, tăng 52% so tháng trước, giá bán buôn các mặt hàng thủy hải sản khô tăng 3-15% như tôm khô, mực khô, riêng khô cá đù, khô cá khoai tăng 49-50%, giá các loại mắm và khô khác ổn định so tháng trước.
- Rau, củ, quả, trái cây:
Lượng rau củ quả về chợ đầu mối Bình Điền dao động từ 980-1.163tấn/ngày, chợ đầu mối Hóc Môn dao động từ 1.516-1.933tấn/ngày, chợ đầu mối Thủ Đức dao động từ 2.529-3.310tấn/ngày.
So tháng trước, giá bán buôn nhiều loại rau, củ, trái cây tăng giảm phổ biến từ 3.000-10.000đ/kg như cải thảo, củ sắn, xà lách xoong, bắp cải, bông cải, cà rốt, su hào, dưa leo, chanh, ớt, cam, quýt, xoài, vú sữa, đu đủ giảm; trong khi su su, các loại khoai, cà chua, đậu que, khoai tây, khổ qua, đậu bắp, mướp, nấm tăng so tháng trước.
Giá các loại hoa cúng tăng 10.000-20.000đ/bó so tháng trước, như hoa cúc, hoa đồng tiền, hoa cẩm chướng; các loại hoa khác giá ổn định.
Giá bán lẻ bình quân tháng báo cáo các mặt hàng rau, củ quả, trái cây đa số tăng giảm 3.000-5.000đ/kg so tháng trước như bông cải, khổ qua, dưa leo, cải ngọt, tần ô, củ hành, tỏi, ớt, quýt, bưởi, vú sữa, dưa hấu, cam..... giảm; trong khi giá các mặt hàng như bắp cải, cải thảo, đậu que, cà chua, bầu, bí, nho, thanh long, bơ, xoài cát, mận.....tăng so tháng trước.
4. Giá một số hàng hóa, dịch vụ khác:
- Vật liệu xây dựng:
So tháng trước, giá bán lẻ các mặt hàng vật liệu xây dựng tương đối ổn định, riêng mặt hàng thép xây dựng giảm dưới 1%; công lao động phổ thông, công sơn, xây tường tăng 0,12-0,39%.
So tháng 12 năm 2021, giá bán lẻ các mặt hàng vật liệu xây dựng đa số tăng như xi măng tăng 7,42-11,72%, đá dăm tăng 0,55-0,98%; cát xây dựng tăng 1,63-10,34%; thép xây dựng tăng 3,49-4,43%, gạch tăng 2,02-20,03%,....do giá nguyên liệu nhập khẩu đầu vào tăng.
- Gas:
Ngày 01 tháng 12 năm 2022, giá gas thế giới tăng 40USD/tấn so tháng trước, hiện ở mức 650USD/tấn. Theo đó, kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2022, giá bán lẻ gas trong nước cũng đã được điều chỉnh tăng 1.167 đồng/kg gas so với tháng trước, tăng tương đương khoảng 14.000đ/bình 12 kg.
Cụ thể, giá gas bán lẻ đến tay người tiêu dùng 438.000 đồng/bình 12kg.
Đây là tháng thứ hai liên tiếp giá gas tăng, sau 6 tháng giảm liên tục. So với đầu năm nay, giá gas hiện thấp hơn 6.000 đồng/bình 12 kg.Tính từ đầu năm đến nay, giá gas đã có 05 lần tăng giá và 07 lần giảm giá.
- Xăng, dầu:
Trong tháng báo cáo giá xăng dầu được điều chỉnh 03 lần, cụ thể:
+ Lần 01: ngày 01 tháng 12 năm 2022, giá xăng các loại giảm 1000-1080đ/lít, xăng A95 ở mức 22.700đ/lít, xăng E5 ở mức 21.670đ/lít; mặt hàng dầu hỏa giảm 1080đ/lít và dầu diesel giảm 1590đ/lít, lần lượt ở mức 23.560đ/lít và 23.210đ/lít.
+ Lần 02: ngày 12 tháng 12 năm 2022, giá xăng các loại giảm 1330-1500đ/lít, xăng A95 ở mức 21.200đ/lít, xăng E5 ở mức 20.340đ/lít; mặt hàng dầu hỏa giảm 1660đ/lít và dầu diesel giảm 1540đ/lít, lần lượt ở mức 21.900đ/lít và 21.670đ/lít.
+ Lần 03: ngày 21 tháng 12 năm 2022, giá xăng các loại giảm 370-500đ/lít, xăng A95 ở mức 20.700đ/lít, xăng E5 ở mức 19.970đ/lít; mặt hàng dầu hỏa và dầu diesel giảm 70đ/lít, lần lượt ở mức 21.830đ/lít và 21.600đ/lít.
Từ đầu năm đến nay, giá xăng có 33 đợt điều chỉnh (17 đợt tăng và 16 đợt giảm), giá dầu có 34 đợt điều chỉnh (19 đợt tăng và 15 đợt giảm).