Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 năm 2022 tăng 0,45% so tháng trước (tháng 10 năm 2021 giảm 0,37%).
1. Giá lương thực:
Chỉ số giá lương thực tăng 0,28% so tháng trước (tháng 10 năm 2021 giảm 0,48%), chủ yếu do giá gạo và các loại lương thực chế biến đều điều chỉnh tăng giá bán. Cụ thể như: các mặt hàng gạo tăng 015%-0,73%, bột mì tăng 0,23%-2,35%, bánh đa tăng 0,72%, bánh phở tăng 0,15%, ngủ cốc tăng 0,13%-0,78% và lương thực chế biến như mì gói, miến, cháo, phở ăn liền tăng 0,11%-2,37%.
Giá bán các mặt hàng gạo tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Qúy Mão năm 2023 hiện ở mức:
- Gạo trắng thường 5% tấm là 14.500đ/kg (không bao bì) và 15.500đ/kg (bao bì PA/PE, túi 5kg, 10kg, 25kg).
- Gạo Jasmine: 15.500đ/kg (không bao bì) và 17.000đ/kg (bao bì PA/PE, túi 5kg).
2. Giá thực phẩm:
Chỉ số giá thực phẩm tăng 0,17% so tháng trước (tháng 10 năm 2021 giảm 1,76%) chủ yếu chịu tác động bởi các mặt hàng như:
+ Dầu mỡ ăn và chất béo khác tăng 0,54% so với tháng trước do giá dầu ăn tăng vì giá nguyên liệu sản xuất tăng giá.
+ Thủy sản tươi sống tăng 0,22% so với tháng trước do nguồn cung giảm vì ảnh hưởng của thời tiết bão nên ngư dân hạn chế ra khơi.
+ Nước mắm, nước chấm tăng 0,84% so với tháng trước; sữa, bơ, phô mai tăng 0,47%; chè, cà phê, ca cao tăng 0,60% do hết chương trình khuyến mãi tại một số cửa hàng và siêu thị, thêm vào đó là giá nguyên liệu tăng.
+ Rau tươi, khô và chế biến tăng 0,95% so tháng trước; quả tươi, chế biến tăng 0,39%; đồ gia vị tăng 0,50% do ảnh hưởng của yếu tố thời tiết đã làm giá các loại rau củ quả và đồ gia vị tăng giá.
+ Giá thịt heo giảm 0,56% so tháng trước; thịt chế biến giảm 0,07%. Giá thịt heo giảm do nguồn cung tăng trong khi nhu cầu tiêu thụ trong nước giảm. Thịt heo đông lạnh nhập khẩu với số lượng lớn và mức giá thấp cũng tác động đến giá thịt heo.
+ Trứng các loại giảm 0,41% so tháng trước, do nguồn cung tại nhiều địa phương đang tăng lên và khả năng giá trứng còn giảm trong thời gian tới.
- Thịt heo:
Tại thời điểm báo cáo (ngày 21 tháng 10 năm 2022) giá thịt heo nhìn chung ổn định so tháng trước. Giá heo hơi ổn định so tháng trước, heo hơi loại 1 hiện ở mức 61.500đ/kg và heo hơi loại 2 ở mức 59.000đ/kg. Giá heo bên tăng 1.000-2.000đ/kg so tháng trước, heo bên loại ngon hiện ở mức 72.000đ/kg, heo bên loại thường 64.000đ/kg; giá bán sỉ heo pha lóc các loại tại chợ đầu mối Hóc Môn giảm từ 2.000-5.000đ/kg so tháng trước, riêng thịt đùi tăng 3.000đ/kg, hiện ở mức: thịt đùi rọ 68.000đ/kg, sườn non 120.000đ/kg, cốt lết 70.000đ/kg, nạc dăm 90.000đ/kg, chân giò 63.000đ/kg, ba rọi 110.000đ/kg.
Giá bán lẻ các mặt hàng thịt heo đa số giảm theo xu hướng giảm giá heo hơi, cụ thể thịt ba chỉ giảm 2,98%; sườn lợn giảm 3,62%, thịt đùi giảm 2,21%, nạc thăn giảm 2,65% so tháng trước.
Hiện giá bán các mặt hàng thịt gia súc tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Quý Mão năm 2023 ở mức: thịt heo đùi 110.000đ/kg, thịt vai 136.000đ/kg, thịt cốt lết 135.000đ/kg, chân giò 122.000đ/kg, thịt nách 128.000đ/kg, thịt nạc (vai, đùi) 165.000đ/kg, xương đuôi heo 107.500đ/kg, xương bộ heo 77.500đ/kg.
- Thịt bò:
So tháng trước, giá bán lẻ mặt hàng thịt bò thăn loại 1 tăng 2.000đ/kg (0,82%), trong khi thịt bò bắp và thịt bò mông giảm 2.000-3.000đ/kg (0,62-0,9%), giá thịt bò thăn đông lạnh tăng 2.000đ/kg (0,74%)so tháng trước.
- Thịt gia cầm:
Tại chợ đầu mối Bình Điền sức mua ổn định, lượng hàng về chợ dao động từ 7-9 tấn/ngày, giảm 2% so tháng trước.
Giá bán sỉ các mặt hàng gia cầm giảm 4.000-7.000đ/kg so tháng trước, hiện ở mức: cánh gà nhập khẩu 55.000đ/kg, gà tam hoàng nguyên con 63.000đ/kg, gà công nghiệp nguyên con 37.000đ/kg, vịt nguyên con 57.000đ/kg; đùi gà nhập khẩu ở mức 50.000đ/kg.
Giá bán lẻ các mặt hàng gia cầm đa số giảm từ 1.000-3.000đ/kg (0,44%-2,44, trong khi đùi gà công nghiệp và gà tà làm sẵn đông lạnh tăng 0,61%-1,93% %) so tháng trước.
Giá các mặt hàng thịt gia cầm tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Quý Mão năm 2023 ổn định ở mức: thịt gà ta 90.000đ/kg, thịt gà thả vườn 67.000đ/kg, thịt gà công nghiệp nguyên con 45.000đ/kg, thịt vịt 68.000đ/kg, đùi gà công nghiệp góc tư 42.000đ/kg (Ba Huân), ức gà công nghiệp 42.000đ/kg (Ba Huân), phi lê ức gà 55.000đ/kg (Long Bình), cánh gà 70.000đ/kg (Long Bình).
- Trứng gia cầm:
Trên thị trường, giá bán lẻ mặt hàng trứng gà ta không đóng hộp giảm 0,88%; trứng gà công nghiệp giảm 0,35% và trứng vịt giảm 2,21% so tháng trước; hiện phổ biến ở mức: giá trứng gà loại 1 ở mức 32.000-34.000đ/chục, trứng vịt loại 1 ở mức 36.000-39.000đ/chục.
Hiện giá bán mặt hàng trứng gia cầm tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Quý Mão năm 2023 hiện ở mức: trứng gà loại 1 là 31.500đ/vĩ, giá trứng vịt loại 1 là 37.000đ/vĩ.
- Thủy hải sản:
Lượng thủy hải sản tươi bình quân 1.100-1.200 tấn/ngày, giảm 0,11% so tháng trước.
So tháng trước, giá bán buôn nhiều mặt hàng thủy hải sản tăng giảm từ 3%-8% so tháng trước như cá bớp, lươn, cua, sò, ốc..…giảm do nguồn cung dồi dào; trong khi giá các mặt hàng như cá thu, cá ngân, cá chẽm, cá trê, tôm,... tăng; giá các loại cá nhập khẩu ổn định so tháng trước.
Giá bán lẻ các mặt hàng thủy hải sản tươi sống tăng 0,22% so tháng trước, tập trung tăng giá ở các mặt hàng đánh bắt tự nhiên như cá thu, cá ngân, cá nục, mực, …. do nhiên liệu, chi phí bảo quản tăng trong khi thời tiết không thuận lợi đã làm nguồn cung hạn chế; riêng giá các loại thả nuôi như cá lóc, cá trê, cá diêu hồng, tôm và ếch đồng giảm 5.000-10.000đ/kg so tháng trước.
Lượng thủy hải sản khô đạt bình quân 5,25 tấn/ngày, giảm 5% so tháng trước, giá bán buôn các mặt hàng thủy hải sản khô ổn định so tháng trước.
So tháng trước, giá bán lẻ mặt hàng thủy hải sản khô giảm 0,39%-2,63%..
- Rau, củ, quả, trái cây:
Lượng rau củ quả về chợ đầu mối Bình Điền dao động từ 679-689tấn/ngày, chợ đầu mối Hóc Môn dao động từ 1585-1755tấn/ngày, chợ đầu mối Thủ Đức dao động từ 2900-3200tấn/ngày.
So tháng trước, giá bán buôn nhiều loại rau, củ, trái cây tăng giảm phổ biến 8%-20% như cải thảo, khoai môn, củ sắn, bắp cải, bông cải, khổ qua, nấm rơm, cam, xoài, dưa hấu, mận, chuối, thơm, thanh long giảm; trong khi su su, bó xôi, xà lách, đậu que, bí đỏ, quýt, đu đủ, nhãn tăng so tháng trước.
Giá bán lẻ bình quân tháng báo cáo các mặt hàng rau, củ quả, trái cây đa số tăng giảm 4%-33% so tháng trước như bông cải trắng, dưa leo, đậu que, khoai tây, nấm rơm, cam, chuối, bơ, thanh long, dưa hấu..... giảm do nguồn cung dồi dào; trong khi giá các mặt hàng như xà lách xoong, khổ qua, cà chua, dưa leo, tần ô, cà tím, mướp, gùng, chanh, ớt, quýt, hồng, đủ đủ, mãng cầu....tăng do nguồn cung giảm.
3. Giá một số hàng hóa, dịch vụ khác:
- Vật liệu xây dựng:
So tháng trước, giá các mặt hàng vật liệu xây dựng như thép giảm 0,21-0,28%, đá dăm giảm 0,59%, trong khi gạch lát nền, bả bột, sơn tường tăng 0,39-0,68%, các mặt hàng còn lại như xi măng, cát san lấp, cát bê tông, tấm lợp, ngói lợp ổn định.
- Gas:
Ngày 01 tháng 10 năm 2022, giá gas thế giới giảm 65USD/tấn so tháng trước, hiện ở mức 575USD/tấn. Theo đó, kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2022, giá bán lẻ gas trong nước cũng đã được điều chỉnh giảm 1.500 đồng/kg gas so với tháng trước, tương đương giảm khoảng 18.000đ/bình 12 kg.
Cụ thể, giá gas bán lẻ đến tay người tiêu dùng không vượt quá 408.900 đồng/bình 12kg và 1.534.236 đồng/bình 45kg.
Đây là tháng thứ sáu liên tiếp giá gas giảm ở thị trường bán lẻ trong nước. Tính từ đầu năm đến nay, giá gas đã có 03 lần tăng giá và 07 lần giảm giá.
- Xăng, dầu:
Trong tháng báo cáo giá xăng dầu được điều chỉnh 03 lần, cụ thể:
+ Lần 01: ngày 03 tháng 10 năm 2022, giá xăng các loại giảm 1.050-1.140đ/lít, xăng A95 ở mức 21.440đ/lít, xăng E5 ở mức 20.730đ/lít; mặt hàng dầu hỏa giảm 760đ/lít và dầu diesel giảm 330đ/lít, lần lượt ở mức 21.680đ/lít và 22.200đ/lít.
+ Lần 02: ngày 11 tháng 10 năm 2022, giá xăng các loại tăng 560đ/lít, xăng A95 ở mức 22.000đ/lít, xăng E5 ở mức 21.290đ/lít; mặt hàng dầu hỏa tăng 1.140đ/lít và dầu diesel tăng 1.980đ/lít, lần lượt ở mức 22.820đ/lít và 24.180đ/lít.
+ Lần 03: ngày 21 tháng 10 năm 2022, giá xăng các loại tăng 200-340đ/lít, xăng A95 ở mức 22.340đ/lít, xăng E5 ở mức 21.490đ/lít; mặt hàng dầu hỏa tăng 840đ/lít và dầu diesel tăng 600đ/lít, lần lượt ở mức 23.660đ/lít và 24.780đ/lít.
Từ đầu năm đến nay, giá xăng có 27 đợt điều chỉnh (15 đợt tăng và 12 đợt giảm), giá dầu có 28 đợt điều chỉnh (17 đợt tăng và 11 đợt giảm).