Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 năm 2022 tăng 0,3% so tháng trước (tháng 9 năm 2021 giảm 0,54%).
1. Giá lương thực:
Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 0,04% so tháng trước (tháng 9 năm 2021 tăng 0,89%) chủ yếu do lương thực chế biến tăng 0,49% như bột mỳ đóng gói, miến, ngũ cốc, bún, bánh mì, ... mặc dù giá gạo quay đầu giảm 0,06%.
So tháng 12 năm 2021, nhóm lương thực tăng 3,32% (cùng kỳ năm 2021 tăng 6,06%) chủ yếu một số mặt hàng gạo các loại tăng 2,25%-5,23%, bột mỳ đóng gói tăng 2,35%-4,5%, mỳ ăn liền, phở ăn liền tăng 1,8%-9,29% do giá nguyên liệu và bao bì tăng.
So tháng trước, giá các mặt hàng gạo nếp, gạo tẻ giảm 0,09%-1,06%.
Giá bán các mặt hàng gạo tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Qúy Mão năm 2023 hiện ở mức:
- Gạo trắng thường 5% tấm là 14.500đ/kg (không bao bì) và 15.500đ/kg (bao bì PA/PE, túi 5kg, 10kg, 25kg).
- Gạo Jasmine: 15.500đ/kg (không bao bì) và 17.000đ/kg (bao bì PA/PE, túi 5kg).
2. Giá thực phẩm:
Chỉ số giá thực phẩm tăng 0,08% so tháng trước (tháng 9 năm 2021 tăng 0,71%), chủ yếu do:
+ Thịt gia cầm tăng 0,47% vì chi phí thức ăn chăn nuôi, chi phí vận chuyển tăng khiến nhiều người chăn nuôi gặp khó nên thu hẹp quy mô dẫn đến nguồn cung giảm; thịt chế biến tăng 0,19%.
+ Thủy sản tươi sống tăng 0,59% vì thời tiết không thuận lợi đã ảnh hưởng đến nguồn cung cấp thủy hải sản và đã tác động đến giá thủy sản chế biến tăng 0,3%.
+ Giá dầu mỡ ăn và chất béo khác tăng 0,38%; các loại đậu và hạt tăng 0,23% so với tháng trước.
+ Trứng các loại giảm 0,07% do nhu cầu giảm khi qua mùa sản xuất bánh trung thu.
+ Nhóm rau tươi, khô và chế biến giảm 1,5% so tháng trước, chủ yếu do yếu tố mùa vụ.
Nhìn chung nhóm thực phẩm có nhiều mặt hàng bắt đầu giảm giá so với tháng trước, do giá xăng dầu trong các tháng gần đây có điều chỉnh giảm đã tác động đến nhóm mặt hàng này.
So tháng 12 năm 2021, nhóm thực phẩm tăng 3,32% (cùng kỳ năm 2021 tăng 7,38%) chủ yếu do một số mặt hàng thịt gia súc tăng 2,71%-8,61%; thịt gia cầm tăng 2,72%-8,88%; trứng gia cầm tăng 20,06%-23%; dầu ăn tăng 12,25%-20,76%; thủy hải sản tươi tăng 2,65%-9,04%....
- Thịt heo:
Tại thời điểm báo cáo (ngày 21 tháng 9 năm 2022) giá thịt heo nhìn chung giảm từ 2.000-10.000đ/kg so tháng trước. Giá heo hơi giảm 3.500-4.500đ/kg so tháng trước, heo hơi loại 1 hiện ở mức 62.500đ/kg và heo hơi loại 2 ở mức 60.000đ/kg. Giá heo bên giảm 5.000-8.000đ/kg so tháng trước, heo bên loại ngon hiện ở mức 70.000đ/kg, heo bên loại thường 65.000đ/kg; giá bán sỉ heo pha lóc các loại tại chợ đầu mối Hóc Môn giảm từ 8.000-15.000đ/kg so tháng trước, riêng thịt nạc dăm tăng 5.000đ/kg, hiện ở mức: thịt đùi rọ 65.000đ/kg, sườn non 125.000đ/kg, cốt lết 75.000đ/kg, nạc dăm 90.000đ/kg, chân giò 65.000đ/kg, ba rọi 110.000đ/kg.
Giá bán lẻ các mặt hàng thịt heo đa số giảm theo xu hướng giảm giá heo hơi, cụ thể thịt ba chỉ giảm 0,11%; sườn lợn giảm 1,15% so tháng trước, tuy nhiên so tháng 12 năm 2021 thì tăng 3,69%-8,61%.
Giá bán các mặt hàng thịt gia súc tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Quý Mão năm 2023 đã thực hiện 01 lần điều chỉnh tăng bình quân 14.500đ/kg vào ngày 18/7/2022 do giá nguyên liệu heo hơi tăng. Sau khi điều chỉnh thì giá các mặt hàng thịt heo trong chương trình bình ổn thị trường vẫn đảm bảo thấp hơn giá bình quân các mặt hàng cùng chủng loại trên thị trường từ 5%-24,8%, việc điều chỉnh giá phù hợp với tình hình biến động giá nguyên liệu heo hơi và giá bán lẻ trên thị trường.
Hiện giá bán các mặt hàng thịt gia súc tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Quý Mão năm 2023 ở mức: thịt heo đùi 110.000đ/kg, thịt vai 136.000đ/kg, thịt cốt lết 135.000đ/kg, chân giò 122.000đ/kg, thịt nách 128.000đ/kg, thịt nạc (vai, đùi) 165.000đ/kg, xương đuôi heo 107.500đ/kg, xương bộ heo 77.500đ/kg.
- Thịt bò:
So tháng trước, giá bán lẻ mặt hàng thịt bò thăn loại 1 giảm 2.000đ/kg (0,68%), thịt bò bắp và thịt bò mông tăng 3.000-4.000đ/kg (0,78-1,87%), giá thịt bò thăn đông lạnh ổn định so tháng trước.
So tháng 12 năm 2021, giá bán lẻ mặt hàng thịt bò thăn loại 1 giảm 6.500đ/kg (2,31%), thịt bò bắp tăng 6.400đ/kg (2,71%), thịt bò thăn đông lạnh giảm 9.800đ/kg (3,1%).
- Thịt gia cầm:
Tại chợ đầu mối Bình Điền sức mua ổn định, lượng hàng về chợ đạt bình quân 9,2 tấn/ngày, giảm 1% so tháng trước.
Giá bán sỉ các mặt hàng gia cầm giảm 4.000-7.000đ/kg so tháng trước, hiện ở mức: cánh gà nhập khẩu 55.000đ/kg, gà tam hoàng nguyên con 63.000đ/kg, gà công nghiệp nguyên con 37.000đ/kg, vịt nguyên con 57.000đ/kg; riêng giá đùi gà nhập khẩu tăng 5.000đ/kg so tháng trước, ở mức 50.000đ/kg.
Giá bán lẻ các mặt hàng gia cầm đa số giảm từ 1.000-3.000đ/kg (0,48%-1,07%) so tháng trước và tăng 2,72%-7,47% so tháng 12 năm 2021.
Giá các mặt hàng thịt gia cầm tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Quý Mão năm 2023 ổn định ở mức: thịt gà ta 90.000đ/kg, thịt gà thả vườn 67.000đ/kg, thịt gà công nghiệp nguyên con 45.000đ/kg, thịt vịt 68.000đ/kg, đùi gà công nghiệp góc tư 42.000đ/kg (Ba Huân), ức gà công nghiệp 42.000đ/kg (Ba Huân), phi lê ức gà 55.000đ/kg (Long Bình), cánh gà 70.000đ/kg (Long Bình).
- Trứng gia cầm:
Trên thị trường, giá bán lẻ mặt hàng trứng gà ta không đóng hộp giảm 2,32%; trứng gà công nghiệp tăng 0,71% và trứng vịt tăng 0,74% so tháng trước; so tháng 12 năm 2021, tăng 20,06%-27%; hiện phổ biến ở mức: giá trứng gà loại 1 ở mức 33.000-34.000đ/chục, trứng vịt loại 1 ở mức 38.000-40.000đ/chục.
Giá các mặt hàng trứng gia cầm tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Quý Mão năm 2023 đã thực hiện điều chỉnh 01 lần vào ngày 15 tháng 6 năm 2022 với mức điều chỉnh tăng 2.000đ/chục áp dụng cho trứng gà và trứng vịt, khi giá nguyên liệu trứng gia cầm tăng 9,5%-13,6% so thời điểm đầu Chương trình Bình ổn thị trường ngày 01 tháng 4 năm 2022. Sau khi điều chỉnh thì giá các mặt hàng trứng gia cầm trong chương trình bình ổn thị trường vẫn thấp hơn giá bình quân các mặt hàng cùng chủng loại trên thị trường từ 7,9%-8,19%; đáp ứng đúng quy định của chương trình.
Hiện giá bán mặt hàng trứng gia cầm tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2022 và Tết Quý Mão năm 2023 hiện ở mức: trứng gà loại 1 là 31.500đ/vĩ, giá trứng vịt loại 1 là 37.000đ/vĩ.
- Thủy hải sản:
Lượng thủy hải sản tươi đạt bình quân 1.121 tấn/ngày, giảm 1% so tháng trước.
So tháng trước, giá bán buôn nhiều mặt hàng thủy hải sản tăng giảm từ 2%-21% so tháng trước như cá thu, cá bớp, cá ngừ, cá bạc má, cá điêu hồng, cá basa, cá kèo, cá thát lát, cua, ốc..…giảm do nguồn cung dồi dào; trong khi giá các mặt hàng như cá nục, cá chẽm, cá trê, cá rô, cá lóc, tôm, mực, sò... tăng; giá các loại cá nhập khẩu tăng giảm 6%-37% so tháng trước như cá tầm, cá thu Nhật tăng, trong khi giá cá lăng và cá hồi giảm.
Giá bán lẻ các mặt hàng thủy hải sản tươi sống tăng bình quân 0,59% so tháng trước, tập trung tăng giá ở các mặt hàng cá lóc, cá thu, cá nục, cá rô phi, tôm rảo, mực, cua biển do chi phí bảo quản và nhu cầu tiêu dùng tăng trong khi thời tiết không thuận lợi đã làm nguồn cung hạn chế; riêng giá cá chép và tôm đồng giảm nhẹ 0,18-0,96% so tháng trước.
So tháng 12 năm 2021, giá bán lẻ các mặt hàng thủy hải sản tươi sống tăng 0,78-9,04%, riêng giá cá chép và tôm đồng giảm 0,61-1,81%.
Lượng thủy hải sản khô đạt bình quân 5,5 tấn/ngày, tăng 5% so tháng trước, giá bán buôn các mặt hàng thủy hải sản khô ổn định so tháng trước.
So tháng trước, giá bán lẻ mặt hàng thủy hải sản khô tăng 0,47%.
So tháng 12 năm 2021, giá bán lẻ mặt hàng thủy hải sản khô tăng 1,33-1,91%.
- Rau, củ, quả, trái cây:
Lượng rau củ quả về chợ đầu mối Bình Điền dao động từ 900-1100tấn/ngày, chợ đầu mối Hóc Môn dao động từ 1500-1900tấn/ngày, chợ đầu mối Thủ Đức dao động từ 2300-2900tấn/ngày.
So tháng trước, giá bán buôn nhiều loại rau, củ, trái cây tăng giảm phổ biến 6%-38% như bắp cải, cà rốt, xà lách, su hào, đậu que, đậu bắp, hành, tỏi, cam, quýt, xoài keo, nhãn, đu đủ giảm; trong khi su su, cải thảo, cà chua, bí đỏ, dưa leo, mướp, chanh, ớt, rau thơm, nấm rơm, bưởi, xoài cát, mãng cầu, quýt tăng so tháng trước.
Giá bán lẻ bình quân tháng báo cáo các mặt hàng rau, củ quả, trái cây đa số tăng giảm 4%-36% so tháng trước như bông cải trắng, dưa leo, đậu que, xà lách xoong, khoai tây, nấm rơm, quýt, nhãn, mãng cầu, bơ..... giảm do nguồn cung dồi dào; trong khi giá các mặt hàng như cải thảo, khổ qua, cà chua, cà rốt, bầu, bí, nho, sầu riêng....tăng do nguồn cung giảm vì ảnh hưởng thời tiết mưa bão.
3. Giá một số hàng hóa, dịch vụ khác:
- Vật liệu xây dựng:
So tháng trước, giá bán mặt hàng vật liệu xây dựng như xi măng Hà Tiên, thép tăng 1,82-3,53%, cát đen san lấp tăng 7,46%, gạch xây tăng 6,19-7,77%, trong khi đá dăm giảm 1,17%, các mặt hàng còn lại như cát xây dựng, sơn tường, gạch lát nền, gạch bê tông, tấm lợp, ngói lợp, bột trát tường ổn định.
So tháng 12 năm 2021, giá các mặt hàng vật liệu xây dựng tăng 3,42-17,93%, riêng sơn tường giảm 8,83%.
- Gas:
Ngày 01 tháng 9 năm 2022, giá gas thế giới giảm 25USD/tấn so tháng trước, hiện ở mức 640USD/tấn. Theo đó, kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2022, giá bán lẻ gas trong nước cũng đã được điều chỉnh giảm 583 đồng/kg gas so với tháng trước, tương đương giảm khoảng 7.000đ/bình 12 kg.
Cụ thể, giá gas bán lẻ đến tay người tiêu dùng không vượt quá 426.900 đồng/bình 12kg và 1.601.736 đồng/bình 45kg.
Đây là tháng thứ năm liên tiếp giá gas giảm ở thị trường bán lẻ trong nước. Tính từ đầu năm đến nay, giá gas đã có 03 lần tăng giá và 06 lần giảm giá.
So tháng trước, giá gas giảm 1,63%; so tháng 12 năm 2021, giá gas giảm 6,95%.
- Xăng, dầu:
Trong tháng báo cáo giá xăng dầu được điều chỉnh 03 lần, cụ thể:
+ Lần 01: ngày 05 tháng 9 năm 2022, giá xăng các loại giảm 370-430đ/lít, xăng A95 ở mức 24.230đ/lít, xăng E5 ở mức 23.350đ/lít; mặt hàng dầu hỏa tăng 1.390đ/lít và dầu diesel tăng 1.430đ/lít, lần lượt ở mức 25.440đ/lít và 25.180đ/lít.
+ Lần 02: ngày 12 tháng 9 năm 2022, giá xăng các loại giảm 1.020-1.120đ/lít, xăng A95 ở mức 23.210đ/lít, xăng E5 ở mức 22.230đ/lít; mặt hàng dầu hỏa giảm 1.030đ/lít và dầu diesel giảm 1.000đ/lít, lần lượt ở mức 24.410đ/lít và 24.180đ/lít.
+ Lần 03: ngày 21 tháng 9 năm 2022, giá xăng các loại giảm 450-630đ/lít, xăng A95 ở mức 22.580đ/lít, xăng E5 ở mức 21.780đ/lít; mặt hàng dầu hỏa giảm 1.970đ/lít và dầu diesel giảm 1.650đ/lít, lần lượt ở mức 22.440đ/lít và 22.530đ/lít.
Từ đầu năm đến nay, giá xăng có 24 đợt điều chỉnh (13 đợt tăng và 11 đợt giảm), giá dầu có 25 đợt điều chỉnh (15 đợt tăng và 10 đợt giảm).
So tháng trước, giá xăng giảm 6,03%, giá dầu diesel tăng 1,24%.
So tháng 12 năm 2021, giá xăng tăng 0,74-1,08%, giá dầu diesel tăng 34,61%.
Bình quân 9 tháng đầu năm, giá xăng tại thành phố Hồ Chí Minh tăng 41,08% so với cùng kỳ năm trước.