SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
6
8
1
2
9
1
1

Tiêu đề

Tình hình giá cả thị trường thành phố tháng 12 năm 2018 

Tháng

12 

Năm

2018 

Tổng quan

Tháng 12 năm 2018: Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 năm 2018 tăng  0,75% (tháng 12 năm 2017 tăng 0,05%), trong 11 nhóm hàng có 07 nhóm có chỉ số giá tăng; 03 nhóm giảm và 01 nhóm không biến động so tháng trước, cụ thể:

* 07 nhóm chỉ số giá tăng gồm:

-  Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng mạnh 4,43% so tháng trước chủ yếu do việc điều chỉnh tăng giá một số dịch vụ y tế  khi Thông tư số 39/2018/TT-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Bộ Y tế quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hàng trên toàn quốc và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 12 năm 2018 (cụ thể chụp hình x-quang tăng 20,62%; phí nằm viện bệnh viện hạng 3 tăng 15,19%; xét ngiệm nước tiểu 10,74%; phí nằm viện bệnh viện hạng 2 tăng 6,57% - 7,87%; siêu âm mổ bụng tăng 7,22% ...);

-  Nhóm hàng ăn dịch vụ ăn uống tăng 0,76% chủ yếu do nhóm lương thực tăng 0,34%, nhóm thực phẩm tăng 1,07% và nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 0,44% (nội dung cụ thể tại mục 2, mục 3 phần I);

Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,52% chủ yếu do tăng giá của một số hàng hóa, dịch vụ như mỹ phẩm, trang sức, dịch vụ làm đẹp, hiếu hỷ tăng 0,48%-4,22%…;

- Nhóm văn hóa giải trí và du lịch tăng 0,25% chủ yếu do tăng dịch vụ du lịch trong nước tăng 0,09%-1,45%; giá phòng khách sạn tăng 6,44%….Tiếp đến là nhóm thiết bị đồ dùng gia đình tăng 0,13%; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,1%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,09%.

* 03 nhóm chỉ số giảm gồm:

- Nhóm giao thông giảm mạnh 5,4% chủ yếu do tác động của 02 đợt điều chỉnh giảm giá xăng dầu trong tháng báo cáo (ngày 06 và ngày 21 tháng 12 năm 2018); tính bình quân thì giá xăng, dầu diesel giảm 9,82%-11,23% so tháng trước;

- Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,72% chủ yếu do giá một số loại chất đốt như dầu hỏa, gas giảm 8,72%-11,86%;  bên cạnh đó một vài mặt hàng biến động như: xi măng,  gạch, cát xây dựng tăng nhẹ so tháng trước với mức tăng không đáng kể….Còn lại nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,02%.

- Riêng nhóm giáo dục không thay đổi so tháng trước.

Chỉ số giá vàng giảm 0,27% so tháng trước và giảm 0,16% so tháng 12 năm 2017; tỷ giá USD so đồng Việt Nam giảm 0,05% so tháng trước và tăng 2,68% so tháng 12 năm 2017. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân cả năm 2018 tăng  3,05%.

* Năm 2018: Chỉ số giá tiêu dùng tại Thành phố tháng 12 năm 2018 tăng 3,71% so với tháng 12 năm 2017 (năm 2017 so cùng kỳ năm 2016 tăng 3,25%; năm 2016 so với cùng kỳ năm 2015 tăng 4,41%, năm 2015 so cùng kỳ năm 2014 giảm 0,2%, năm 2014 so cùng kỳ năm 2013 tăng 1,65%), trong năm 2018, giá tiêu dùng tại Thành phố chịu tác động bởi:

- Nhóm giáo dục tăng 8,13% do tác động điều chỉnh tăng học phí tại một số trường tư nhân và dân lập (được tự quyết định mức học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ Quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2020 – 2021) trong tháng 9 và tháng 10 năm 2018 tập trung trung học cơ sở, trung học phổ thông khiến chỉ số nhóm giáo dục tăng;

- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,32% chủ yếu do tác động của nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 7,3% nguyên nhân tăng nhiều chủ yếu thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn, dịch vụ ăn uống phát triển, đa dạng, dẫn tới nhu cầu ăn uống nhiều đặc biệt vào những ngày lễ lớn kéo dài thì nhu cầu ăn uống càng cao dẫn tới kéo giá cả hàng hóa, dịch vụ ăn uống tăng cao;

- Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,6% chủ yếu do việc tăng giá của một số hàng hóa, dịch vụ như mỹ phẩm, trang sức, dịch vụ làm đẹp, hiếu hỷ; bảo hiểm y tế cho công chức và người lao động…;

- Các nhóm còn lại có mức tăng nhẹ là nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch; nhóm đồ uống và thuốc lá; cuối cùng là nhóm giao thông với mức tăng lần lượt là 1,19%; 1,15%; 1,04% và 0,55%;

- Riêng 4 nhóm có chỉ số giảm là nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 1,81% (tác động từ đợt điều chỉnh giảm giá một số dịch vụ y tế khi Thông tư số 15/2018/TT-BYT ngày 30 tháng 5 năm 2018 của Bộ Y tế quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hàng trên toàn quốc và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2018); nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,77%; nhóm may mặc, mủ nón, giày dép giảm 0,34%, cuối cùng nhóm nhà ở, điện nước và vật liệu xây dựng giảm 0,09%.

Ngoài ra, giá cả thị trường còn chịu tác động của các yếu tố sau:

- Tác động từ việc điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng lên mức 2.760.000 đến 3.980.000 đồng/tháng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã, hợp tác xã, tổ hợp tác xã, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động theo quy định tại Nghị định 141/2017/NĐ-CP ngày 07 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ Quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động… qua đó ảnh hưởng đến tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;

- Tác động từ sự bất ổn của một số nền kinh tế và tài chính trên thế giới cùng với việc điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước đã ảnh hưởng trực tiếp đến giá vàng và đô la Mỹ trong nước;

- Công tác quản lý và bình ổn giá được chỉ đạo và triển khai quyết liệt từ trung ương đến thành phố, đặc biệt tác động từ 04 Chương trình bình ổn thị trường trên địa bàn Thành phố đã góp phần ổn định giá cả các mặt hàng thiết yếu tại Thành phố.

Dự đoán tình hình giá cả thị trường trong tháng tới

1. Các Chương trình bình ổn thị trường của thành phố:

Ngày 28 tháng 3 năm 2018, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành các Quyết định số 1171/QĐ-UBND và 1172/QĐ-UBND về Kế hoạch thực hiện Chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng dược phẩm thiết yếu; các mặt hàng sữa; các mặt hàng phục vụ mùa khai giảng năm học 2018-2019; các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 và Tết Kỷ Hợi năm 2019. Tổng số doanh nghiệp tham gia 04 chương trình là 74 doanh nghiệp (giảm 1 doanh nghiệp so với năm 2017):

- Chương trình bình ổn hàng lương thực thực phẩm thiết yếu gồm 42 doanh nghiệp tham gia với 10 nhóm hàng là: gạo, đường, dầu ăn, thịt gia súc, thịt gia cầm (làm sẵn), trứng gia cầm, rau củ quả, thủy hải sản, thực phẩm chế biến (chả lụa, lạp xưởng, thực phẩm đóng hộp, nước mắm đóng chai, thực phẩm chế biến khác), lương thực khác. 

- Chương trình bình ổn hàng phục vụ mùa khai trường gồm 13 doanh nghiệp tham gia với 03 nhóm hàng là : tập và dụng cụ học sinh; balô, túi xách, cặp học sinh; đồng phục học sinh.

- Chương trình bình ổn mặt hàng sữa gồm 06 doanh nghiệp tham gia gồm 02 nhóm sản phẩm (sữa bột và sữa nước) với 4 dòng sản phẩm: sữa bột dành cho trẻ em; sữa bột dành cho người cao tuổi, người bệnh; sữa bột dành cho bà mẹ mang thai; sữa dinh dưỡng bổ sung vi chất (sữa nước).

- Chương trình bình ổn hàng dược phẩm thiết yếu gồm 13 doanh nghiệp   21 nhóm thuốc (thuốc giảm đau, hạ sốt, kháng viêm; thuốc trị ho; thuốc chống dị ứng; thuốc nhỏ mắt; thuốc trị đau dạ dày; thuốc trị tiêu chảy; thuốc tim mạch; thuốc trị tiểu đường; thuốc kháng sinh-SULFAMID; thuốc kháng viêm CORTICOID; thuốc chống thoái hóa khớp; thuốc trị giun; thuốc trợ tiêu hóa; viatmin & khoáng chất; thuốc dùng ngoài; thuốc trị hen phế quản; thuốc cải thiên tuần hoàn não; thuốc chống rối loạn tâm thần; thuốc trị nấm; thuốc từ dược liệu; thuốc khác).

Các doanh nghiệp tham gia Chương trình sẽ được hỗ trợ vay vốn trung và dài hạn thông qua các tổ chức tín dụng tham gia Chương trình với mức lãi suất ưu đãi và hạn mức vay phù hợp, riêng chương trình bình ổn thị trường mặt hàng dược phẩm thiết yếu, doanh nghiệp tham gia không vay vốn.

Các chương trình này bắt đầu từ ngày 01 tháng 4 năm 2018 và kéo dài đến hết 31 tháng 3 năm 2019, riêng chương trình bình ổn mùa khai trường cao điểm từ ngày 01 tháng 5 năm 2018 đến 31 tháng 10 năm 2018. Giá các mặt hàng bình ổn đảm bảo thấp hơn mặt hàng cùng chủng loại trên thị trường 5-10%, riêng chương trình mùa khai giảng thấp hơn ít nhất từ 10%-15% và giá bán chương trình sữa đảm bảo hợp lý, ổn định và có khả năng dẫn dắt thị trường. Các sản phẩm bình ổn thị trường hiện nay đều có Biểu trưng (Logo) bình ổn thị trường trên bao bì sản phẩm.

Từ khi bắt đầu 04 Chương trình bình ổn thị trường đến nay, giá bán mặt hàng thịt gia súc tham gia Chương trình được thực hiện điều chỉnh tăng 05 lần; mặt hàng trứng gia cầm điều chỉnh tăng 01 lần và giảm 1 lần, các mặt hàng còn lại giá ổn định và chưa thực hiện điều chỉnh lần nào. Tại thời điểm báo cáo, giá bán các mặt hàng lương thực, thực phẩm đều đảm bảo “thấp hơn giá thị trường của sản phẩm cùng quy cách, chủng loại, chất lượng ít nhất từ 5% đến 10%”, cụ thể: giá gạo thấp hơn giá thị trường 5%-12%; đường ăn thấp hơn 19%; dầu ăn thấp hơn 12%; thịt gia cầm thấp hơn 17%-26%, thịt gia súc thấp hơn 5,5% - 6,2%; trứng gia cầm thấp hơn 7% - 8%.

ItemStatus

ReadCounter

 
Tệp đính kèm
Đã tạo vào thời điểm 18/04/2019 3:03 CH  bởi NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN 
Được sửa tại 18/04/2019 3:03 CH  bởi NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN