SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
6
8
1
2
9
0
1

Tiêu đề

Tình hình giá cả thị trường thành phố tháng 11 năm 2017 

Tháng

11 

Năm

2017 

Tổng quan

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 năm 2017 tăng 0,17% so với tháng trước (tháng 11 năm 2016 tăng 0,55%). Trong 11 nhóm hàng có 07 nhóm có chỉ số giá tăng; 04 nhóm không biến động so tháng trước, cụ thể:

* 07 nhóm chỉ số giá tăng gồm:

    - Nhóm giao thông tăng mạnh 0,8% so với tháng trước chủ yếu do tác động của 02 đợt điều chỉnh tăng giá xăng dầu trong tháng báo cáo (ngày 04 và ngày 20 tháng 11 năm 2017); tính bình quân thì giá xăng, dầu diesel tăng 1,54% so với tháng trước.

    - Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,27% so với tháng trước, trong đó: nhóm lương thực giảm 0,16%; nhóm thực phẩm tăng khá với mức tăng 0,5% trong khi nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình không biến động so với tháng trước (chi tiết tại Điểm 2 và Điểm 3 Phần I).

    - 02 nhóm có cùng mức tăng 0,15% là nhóm thiết bị, đồ dùng gia đình; nhóm đồ uống và thuốc lá.

    - 03 nhóm còn lại có mức tăng nhẹ là nhóm may mặc, mũ nón, giày dép; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng và cuối cùng là nhóm văn hóa giải trí và du lịch với mức tăng lần lượt là 0,03%; 0,02%; 0,01%.

    - 04 nhóm còn lại không biến động so với tháng trước là nhóm bưu chính viễn thông; nhóm hàng hóa, dịch vụ khác; nhóm giáo dục cuối cùng là nhóm thuốc và dịch vụ y tế.

Chỉ số giá vàng và chỉ số giá USD so đồng Việt Nam lần lượt giảm ở mức 0,08% và 0,04% so tháng trước.

So với cùng kỳ và so với tháng 12 năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 năm 2017 có mức tăng lần lượt là 3,74% và 3,2% (cùng kỳ năm trước tăng 3,77% và tăng 3,87%). Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng đầu năm 2017 so cùng kỳ năm trước tăng 4,32% (cùng kỳ năm trước tăng 1,76%)

Dự đoán tình hình giá cả thị trường trong tháng tới

1. Các Chương trình bình ổn thị trường của thành phố:

Sở Tài chính thường xuyên theo dõi diễn biến tình hình giá thị trường để có sự điều chỉnh kịp thời và chính xác đối với mức giá đăng ký của các doanh nghiệp tham gia các Chương trình bình ổn thị trường. Qua theo dõi trên thị trường, hiện nguồn cung trên thị trường giảm, giá nguyên liệu trứng gia cầm tăng từ 8,7%-9,38% so với lần điều chỉnh liền kề đồng thời giá trên thị trường cũng đã tăng 6% - 7%; trên cơ sở đó, ngày 10 tháng 11 năm 2017, Sở Tài chính đã tổ chức họp với các thành viên Tổ Công tác và các doanh nghiệp tham gia Chương trình để xem xét điều chỉnh giá các mặt hàng trứng gia cầm. Tại cuộc họp, nhằm đảm bảo tiêu chí dẫn dắt thị trường của Chương trình bình ổn thị trường, phù hợp với tình hình giá nguyên liệu đầu vào, diễn biến của thị trường,  Tổ Công tác và các doanh nghiệp tham gia Chương trình bình ổn thị trường đã thống nhất điều chỉnh tăng mặt hàng trứng gia cầm với mức tăng 1.500đ/chục; tuy nhiên để tránh việc điều chỉnh tăng giá đột ngột sẽ gây sức ép lên thị trường và người tiêu dùng; thống nhất mức điều chỉnh tăng sẽ chia làm 2 đợt, cụ thể:

- Đợt 1: điều chỉnh tăng 1.000đ/chục, áp dụng từ ngày 12 tháng 11 năm 2017, cụ thể: trứng gà từ 22.500đ/chục lên 23.500đ/chục; trừng vịt từ 30.500đ/chục lên 31.500đ/chục.

- Đợt 2: điều chỉnh tăng 5.00đ/chục, áp dụng từ ngày 22 tháng 11 năm 2017, cụ thể: trứng gà từ 23.500đ/chục lên 24.000đ/chục; trừng vịt từ 31.500đ/chục lên 32.000đ/chục.     

Qua so sánh với giá bình quân của các chợ bán lẻ trên địa bàn Thành phố, các chợ trong Mạng lưới báo giá của Sở Tài chính và giá tại các kênh siêu thị trên thị trường đến nay, giá bán hầu hết các mặt hàng của các doanh nghiệp tham gia Chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu đều đảm bảo tiêu chí tại Kế hoạch ban hành kèm theo Quyết định số 1579/QĐ-UBND ngày 05 tháng 4 năm 2017 của Ủy ban nhân dân Thành phố về Chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017 và Tết Mậu Tuất năm 2018 là “thấp hơn giá thị trường của sản phẩm cùng quy cách, chủng loại, chất lượng ít nhất từ 5% đến 10%”, cụ thể: giá gạo thấp hơn giá thị trường 9%-17%; đường ăn thấp hơn 12%; dầu ăn thấp hơn 8%; thịt gia cầm thấp hơn 12%-28%, thịt gia súc thấp hơn 11,2%-21,8%, trứng gia cầm thấp hơn 5,9%-7,7%./.

ItemStatus

ReadCounter

 
Tệp đính kèm
Đã tạo vào thời điểm 18/12/2017 9:41 SA  bởi NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN 
Được sửa tại 18/12/2017 9:41 SA  bởi NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN