|
|
|
Tiêu đề |
TÌNH HÌNH GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG THÀNH PHỐ THÁNG 2 NĂM 2009
|
Tháng |
02
|
Năm |
2009
|
Tổng quan |
- Thực hiện Chỉ thị số 35/2008/CT-TTg ngày 09/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện các giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hóa, bình ổn thị trường và phục vụ Tết nguyên đán Kỷ Sửu 2009, Chỉ thị số 03/2008/CT-BTC ngày 01/12/2008 của Bộ Tài Chính về việc bình ổn giá trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Sửu, Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Chỉ thị số 23/2008/CT-UBND ngày 03/12/2008 về tổ chức đón Tết Nguyên đán Kỷ Sửu năm 2009 và công văn số 7589/UBND-TM ngày 05/12/2008 về việc tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường trước, trong và sau Tết Nguyên đán Kỷ Sửu 2009.
- Ngay từ đầu tháng 8/2008, Ủy ban nhân dân thành phố đã chỉ đạo kịp thời, giao trách nhiệm cụ thể cho Ủy ban nhân dân quận, huyện; Sở, ban ngành và các daonh nghiệp triển khai công tác chuẩn bị nguồn hàng dự trữ phụ vụ Tết và xây dựng kế hoạch hàng hóa thực phẩm thiết yếu tham gia bình ổn thị trường Tết Kỷ Sửu 2009. Dịp này, Ủy ban nhân dân thành phố đã chấp thuận cho 9 doanh nghiệp được tạm ứng 409tỷ đồng, tăng 9 tỷ so năm 2007 để bình ổn giá 7 mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu, gồm: gạo, đường, dầu ăn, thịt gia súc, thịt gia cầm, trứng gia cầm và thực phẩm chế biến các loại (trong đó Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn là 190tỷ đồng, Công ty Lương thực thành phố 7,6 tỷ đồng, Công ty CP Thực phẩm Công nghệ Sài Gòn là 34 tỷ đồng, Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại thành phố 53 tỷ đồng, Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn 66 tỷ đồng, Công ty CP đầu tư Vinh Phát 11,4 tỷ đồng, Công ty TNHH Thương mại và Chế biến Thực phẩm Phú An Sinh 13 tỷ đồng, Công ty TNHH Huỳnh Gia Huynh Đệ 19 tỷ đồng, Công ty TNHH Ba Huân 15 tỷ đồng) trong thời hạn 6 tháng để thu mua dự trữ hàng hóa phục vụ Tết Nguyên đán Kỷ Sửu 2009 với giá bán thấp hơn giá thị trường tối thiểu 10%.
- Trước tình hình kinh tế khó khăn, sức mua giảm do người tiêu dùng có khuynh hướng giảm chi tiêu nên thị trường Tết năm nay khởi động khá chậm so các năm trước và chủ yếu tập trung vào những ngày cuối tuần và nhất là những ngày cận Tết và đặc biệt tập trung chủ yếu vào các Trung tâm Thương mại và siêu thị do có nhiều hình thức khuyến mại. Chín doanh nghiệp tham gia bình ổn giá thị trường đã tập trung đưa hàng đến tay người tiêu dùng từ hai tuần trước Tết, mạng lưới phân phối với 585 điểm (tăng 141 điểm so năm 2008) đồng thời tổ chức bán hàng lưu động tại các nhà máy, xí nghiệp và các xã vùng sâu, vùng xa thuộc các quận, huyện ngoại thành.
- Tuy giá một số mặt hàng thực phẩm tăng cao trong những ngày cận Tết nhưng nhìn chung giá cả thị trường không có biến động lớn và không tăng cao như các năm trước do các đơn vị kinh doanh đã chuẩn bị lượng hàng hóa kinh doanh và dự trữ rất dồi dào, không có hiện tượng khan hiếm, đồng thời các doanh nghiệp đã thoả ước cam kết không tăng giá trong và sau Tết với giá bán thấp hơn giá thị trường 10-20%, góp phần ổn định giá cả thị trường trong dịp Tết năm nay.
- Để kích cầu đầu tư và tiêu dùng, ngăn chặn suy giảm kinh tế, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, Ngân hàng nhà nước đã giảm lãi suất cho vay (lãi suất cơ bản từ 8,5%/năm còn 7%/năm) đồng thời triển khai gói kích cầu bù lãi suất (mức bù là 4%) của Chính phủ thực hiện từ sau Tết. Bộ Tài chính đã có quyết định giảm ½ thuế suất thuế giá trị gia tăng cho 19 nhóm mặt hàng, dịch vụ trong năm 2009 trong đó nhiều mặt hàng là nguyên liệu, thiết bị cho sản xuất, xuất khẩu. Trước đó, Bộ Tài chính cũng đã giảm 30% thuế thu nhập của quý IV/2008 và cả năm 2009 cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời, ngày 09/02/2009, giá dầu diesel cũng được giảm 500đ/lít còn 10.500đ/lít (DO 0,5%S).
- Sau khi, thuế giá trị gia tăng được giảm, giá một số mặt hàng bắt đầu giảm như thép giảm 500.000-600.000đ/tấn, xe hơi giảm 1.000-3.500USD/xe (loại thường, 6.000-9.000USD/xe (loại cao cấp)… Sau Tết, sức mua còn chậm và giảm khoảng 10-20% so cùng kỳ năm trước nên hầu hết các siêu thị và trung tâm thương mại đã tiếp tục đẩy mạnh khuyến mại nhằm kích cầu tiêu dùng và thu hút khách hàng.
- Vì vậy, chỉ số giá tiêu dùng tháng 02/2009 (tính từ 16/01 đến 15/02/2009) chỉ tăng 1,31% so tháng 01/2009, là mức tăng thấp nhất so cùng kỳ từ năm 1985 đến nay (tháng 02/2008 tăng 3,83%). Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,85% trong đó nhóm lương thực tiếp tục giảm 0,78% (cùng kỳ năm ngoái tăng 4,96%), thực phẩm tăng 2,08% (cùng kỳ năm ngoái tăng 8,06%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,41%; may mặc, mũ nón giày dép tăng 0,16%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,37%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,00%; giao thông, bưu chính viễn thông tăng 0,34%; giáo dục tăng 0,12%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,20%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,27%. Giá vàng tăng mạnh 9,17%, tỷ giá đô la Mỹ tăng 1,08%.
|
Dự đoán tình hình giá cả thị trường trong tháng tới |
Chỉ số giá cả tháng 3 trong những năm trước :
|
Chỉ số giá tăng (+), giảm (-) so tháng trước |
2004 |
2005 |
2006 |
2007 |
2008 |
|
A. Hàng hoá và dịch vụ |
-0,28 |
-0,74 |
-1,16 |
-1,56 |
1,92 |
|
I. Hàng hoá |
-0,30 |
-0,21 |
|
|
|
|
- Lương thực, thực phẩm |
-2,86 |
-0,11 |
-0,77 |
-2,78 |
10,82 |
|
- Hàng không phải LT-TP |
2,40 |
-0,35 |
|
|
|
|
II. Dịch vụ |
-0,18 |
-2,25 |
|
|
|
|
B. Vàng |
0,84 |
1,92 |
1,62 |
2,82 |
6,29 |
|
C. Đôla Mỹ |
0,68 |
0,09 |
0,05 |
-0,21 |
-1,53 |
Giá cả thị trường tháng 03 năm 2009 chịu tác động bởi các yếu tố:
- Giá cả thị trường sau Tết thường giảm do giá hầu hết các mặt hàng thực phẩm tươi sống, công dịch vụ, phục vụ và các dịch vụ ăn uống ngoài gia đình cũng giảm dần trở lại mức bình thường. /font>
- Dịch bệnh gia súc, gia cầm đang diễn biến phức tạp, có nguy cơ lan rộng ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sẽ ảnh hưởng đến nguồn hàng tại thành phố. Giá heo hơi và thịt heo có chiều hướng tăng cao.
- Từ ngày 01/3/2009, giá bán lẻ điện điện bình quân là 948,5đ/kwh, tăng 8,92% so với giá điện bình quân năm 2008. Ước tính, việc tăng giá điện sẽ trực tiếp làm tăng chỉ số giá tiêu dùng khoảng 0,25%-0,3%.
Ước chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2009 xấp xỉ hoặc giảm nhẹ so tháng 02/2009./.
|
ItemStatus |
4
|
ReadCounter |
|
|
Tệp đính kèm
|
|
 |
|
|
|
|
|
|