So tháng trước, CPI tháng 11 tăng 0,51%. Trong 11 nhóm hàng chính, có 02 nhóm hàng giảm giá, nhóm giảm nhiều nhất là nhóm bưu chính viễn thông 1,49%; các nhóm còn lại đều tăng, tăng cao nhất là nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng 1,29%, cụ thể:
- 02 nhóm có chỉ số giá giảm: nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,11%, nhóm bưu chính viễn thông giảm 1,49%.
- 09 nhóm có chỉ số giá tăng: nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,22%; nhóm giao thông tăng 0,28%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,29%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,34%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,38%; nhóm giáo dục tăng 0,68%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,69%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,29%.
1. Giá lương thực:
Giá lương thực tăng 0,41% so với tháng trước, trong đó chỉ số nhóm gạo tăng 0,38%, nhóm lương thực chế biến tăng 0,59% do nhu cầu thị trường tăng cao.
Ở chiều ngược lại, giá bột mỳ và ngũ cốc khác giảm 0,15%, cụ thể giá sắn giảm 0,34%, giá khoai giảm 0,61% do nguồn cung nhiều và người bán giảm giá.
Giá bán các mặt hàng gạo tham gia Chương trình Bình ổn thị trường tháng 11 ổn định ở mức:
- Gạo trắng thường 5% tấm là 17.500 đồng/kg (không bao bì) và 18.500 đồng/kg (bao bì PE, túi 5kg).
- Gạo Jasmine: 19.000 đồng/kg (không bao bì) và 20.000 đồng/kg (bao bì PE, túi 5kg).
2. Giá thực phẩm:
Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,38% so tháng trước, nguyên nhân chủ yếu tập trung ở một số mặt hàng sau:
- Giá dầu thực vật tăng 0,12% do chi phí sản xuất tăng và hết chương trình khuyến mãi.
- Giá thủy sản tươi sống tăng 1,31% do nguồn cung giảm vì thời tiết không thuận lợi. Theo đó, giá thủy sản chế biến tăng 1,28% so tháng trước.
- Giá các loại đậu và hạt tăng 1,4%, giá rau tươi, khô và chế biến tăng 0,89% do ảnh hưởng thời tiết nhiều mưa đã ảnh hưởng đến sản lượng và nhu cầu thị trường tăng.
- Giá nước mắm, nước chấm tăng 0,86%, giá đồ gia vị tăng 0,4%, giá đường, mật tăng 0,56%, giá sữa, bơ, phô mai tăng 0,53%, giá chè, cà phê, ca cao tăng 0,53% do chi phí nguyên liệu đầu vào và chi phí vận chuyển tăng.
Ở chiều ngược lại, giá thịt chế biến giảm 0,58%, giá trứng các loại giảm 0,58%, giá quả tươi, chế biến giảm 0,12%, giá bánh, mứt, kẹo giảm 0,78% do nhu cầu thị trường giảm và các chương trình khuyến mãi cuối năm.
3. Giá một số hàng hóa, dịch vụ khác:
- Vật liệu xây dựng:
So tháng trước, giá bán mặt hàng vật liệu xây dựng đa số tăng từ 0,12% đến 3,16% như xi măng, thép các loại, cát xây dựng, sơn tường, gạch xây, tấm lợp, ngói lợp…, riêng gạch lát nền Trung Quốc giảm; trong khi gạch bê tông hai lỗ giá ổn định.
- Gas:
Gas trong nước chịu ảnh hưởng bởi thị trường quốc tế.
Tháng 11 năm 2024, giá gas thế giới ở mức 632,5 USD/tấn, tăng 10 USD/tấn so tháng trước. Theo đó, giá gas tháng 11 điều chỉnh tăng 10.000 đồng/bình 12kg so tháng trước. Cụ thể, giá gas bán lẻ đến tay người tiêu dùng phổ biến ở mức 507.900 đồng/bình 12 kg.
- Xăng, dầu:
Trong tháng báo cáo giá xăng dầu có 04 lần điều chỉnh, trong đó:
+ Xăng: có 02 lần giảm (ngày 14 tháng 11 năm 2024 và ngày 21 tháng 11 năm 2024) và 02 lần tăng (ngày 07 tháng 11 năm 2024 và ngày 28 tháng 11 năm 2024).
+ Dầu: có 02 lần giảm (ngày 14 tháng 11 năm 2024 và ngày 21 tháng 11 năm 2024) và 02 lần tăng (ngày 07 tháng 11 năm 2024 và ngày 28 tháng 11 năm 2024).
Cuối tháng báo cáo: giá xăng A95 ở mức 20.850 đồng/lít, xăng E5 ở mức 19.840 đồng/lít; mặt hàng dầu hỏa và dầu diesel lần lượt ở mức 19.140 đồng/lít và 18.770 đồng/lít.
So tháng trước, giá xăng A95 tăng 350 đồng/lít, xăng E5 tăng 440 đồng/lít; mặt hàng dầu hỏa tăng 310 đồng/lít và dầu diesel tăng 630 đồng/lít.