So tháng trước, CPI tháng 10 tăng 0,72%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 02 nhóm giảm, giảm nhiều nhất là nhóm may mặc, mũ nón, giày dép (0,33%); 09 nhóm còn lại đều tăng, tăng cao nhất là nhóm giáo dục (3,34%), cụ thể:
- 02 nhóm có chỉ số giá giảm: nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 0,01%, nhóm may mặc, mũ nón, giày dép (0,33%).
- 09 nhóm có chỉ số giá tăng: nhóm giáo dục tăng 3,34%; nhóm giao thông tăng 1,07%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,68%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,6%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,58%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,26%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,24%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,14%; cuối cùng là nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,13%.
1. Giá lương thực:
Giá lương thực tăng 0,52% so với tháng trước, trong đó chỉ số nhóm gạo tăng 0,12%, nhóm lương thực chế biến tăng 1,85% do nhu cầu thị trường tăng cao.
Ở chiều ngược lại, giá bột mỳ và ngũ cốc khác giảm 1,23%, cụ thể giá ngô giảm 3,14%, giá khoai giảm 0,77%, giá sắn giảm 0,21% do nguồn cung nhiều và người bán giảm giá.
Giá bán các mặt hàng gạo tham gia Chương trình Bình ổn thị trường tháng 10 ổn định ở mức:
- Gạo trắng thường 5% tấm là 17.500 đồng/kg (không bao bì) và 18.500 đồng/kg (bao bì PE, túi 5kg).
- Gạo Jasmine: 19.000 đồng/kg (không bao bì) và 20.000 đồng/kg (bao bì PE, túi 5kg).
2. Giá thực phẩm:
Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,92% so tháng trước, nguyên nhân chủ yếu tập trung ở một số mặt hàng sau:
- Giá thịt gia súc tăng 0,36% do giá thức ăn chăn nuôi tăng và do nguồn cung thiếu hụt. Theo đó giá thịt chế biến tăng 0,57%, trong đó: giá thịt quay, giò, chả tăng 0,58%, giá thịt hộp tăng 0,45%, giá thịt chế biến khác tăng 1,08%.
- Giá dầu thực vật tăng 1,82% do chi phí sản xuất tăng và hết khuyễn mãi.
- Giá thủy sản tươi sống tăng 1,71% do nguồn cung thiếu hụt vì thời tiết không thuận lợi, theo đó giá thủy sản chế biến tăng 0,92% so tháng trước.
- Giá giá rau tươi, khô và chế biến tăng 1,58%, giá quả tươi, chế biến tăng 1,47%. Nguyên nhân do ảnh hưởng của bão, thời tiết nhiều mưa đã ảnh hưởng đến sản lượng và nhu cầu thị trường tăng do cung cấp cho các tỉnh bị ảnh hưởng bão, lũ.
- Giá nước mắm, nước chấm tăng 1,06%, giá đồ gia vị tăng 0,68%; giá đường, mật tăng 0,5%; giá sữa, bơ, phô mai tăng 0,78%; giá bánh, mứt, kẹo tăng 0,75%; giá chè, cà phê, ca cao tăng 0,85% do chi phí nguyên liệu đầu vào và chi phí vận chuyển tăng.
Ở chiều ngược lại, do trứng vịt bắc thảo giảm 1,65% vì nhu cầu thị trường giảm, trong khi trứng gà và trứng vịt tăng 0,28%-0,95% đã làm cho giá trứng giảm 0,08% so với tháng trước.
3. Giá một số hàng hóa, dịch vụ khác:
- Vật liệu xây dựng:
So tháng trước, giá bán mặt hàng vật liệu xây dựng đa số tăng giảm nhẹ như thép các loại, cát vàng xây dựng, gạch lát nền, ... giảm; trong khi cát san lấp, sơn tường, tấm lợp, ngói lợp, công lao động, ... tăng do nhu cầu gia cố nhà vào mùa mưa; riêng gạch bê tông giá ổn định.
- Gas:
Gas trong nước chịu ảnh hưởng bởi thị trường quốc tế.
Ngày 01 tháng 10 năm 2024, giá gas thế giới ở mức 622,5 USD/tấn, tăng 22,5 USD/tấn so tháng trước. Theo đó, giá gas tháng 10 điều chỉnh tăng 6.000 đồng/bình 12kg so tháng trước. Cụ thể, giá gas bán lẻ đến tay người tiêu dùng phổ biến ở mức 442.000 - 466.000 đồng/bình 12 kg.
- Xăng, dầu:
Trong tháng báo cáo giá xăng dầu có 05 lần điều chỉnh, trong đó:
+ Xăng: có 04 lần giảm (ngày 03 tháng 10 năm 2024, ngày 17 tháng 10 năm 2024, ngày 24 tháng 10 năm 2024 và ngày 31 tháng 10 năm 2024) và 01 lần tăng (ngày 10 tháng 10 năm 2024).
+ Dầu: có 03 lần giảm (ngày 03 tháng 10 năm 2024, ngày 17 tháng 10 năm 2024, ngày 24 tháng 10 năm 2024) và 02 lần tăng (ngày 10 tháng 10 năm 2024 và ngày 31 tháng 10 năm 2024 ).
Cuối tháng báo cáo: giá xăng A95 ở mức 20.500 đồng/lít, xăng E5 ở mức 19.400 đồng/lít; mặt hàng dầu hỏa và dầu diesel lần lượt ở mức 18.830 đồng/lít và 18.140 đồng/lít.
So tháng trước, giá xăng A95 giảm 10 đồng/lít, xăng E5 giảm 220 đồng/lít; mặt hàng dầu hỏa tăng 960 đồng/lít và dầu diesel tăng 640 đồng/lít.