So tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 năm 2024 tăng 0,09%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 2 nhóm giảm, giảm nhiều nhất là nhóm giao thông (1,14%); 09 nhóm còn lại đều tăng, tăng cao nhất là nhóm bưu chính viễn thông (0,85%), cụ thể:
- 02 nhóm có chỉ số giá giảm so tháng trước: nhóm giao thông giảm 1,14% và nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,53%.
- 09 nhóm có chỉ số giá tăng so tháng trước: nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,85%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,71%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,68%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,64%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,33%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,25%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,14%; nhóm giáo dục tăng 0,08%; cuối cùng là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05%.
1. Giá lương thực:
Giá lương thực tăng 0,45% so tháng trước do giá gạo tăng 0,08% (gạo tẻ ngon tăng 0,53%). Bên cạnh đó, giá bột mỳ và ngũ cốc khác tăng 2,32%, giá lương thực chế biến tăng 0,72%.
Giá bán các mặt hàng gạo tham gia Chương trình Bình ổn thị trường trong tháng 8 ổn định ở mức:
- Gạo trắng thường 5% tấm là 17.500 đồng/kg (không bao bì) và 18.500 đồng/kg (bao bì PE, túi 5kg).
- Gạo Jasmine: 19.000 đồng/kg (không bao bì) và 20.000 đồng/kg (bao bì PE, túi 5kg).
2. Giá thực phẩm:
Chỉ số giá nhóm Thực phẩm tăng 0,001% so tháng trước, nguyên nhân chủ yếu tập trung ở một số mặt hàng sau:
- Giá thịt gia cầm tăng 1,04% do giá thức ăn chăn nuôi tăng và do nguồn cung thiếu hụt.
- Giá thịt gia súc tăng 0,13%, trong đó: thịt bò tăng 0,71% do chi phí chăn nuôi và nhu cầu tiêu thụ tăng.
- Giá thịt chế biến tăng 0,06%, trong đó: giá thịt quay, giò, chả tăng 0,11%.
- Giá thủy sản chế biến tăng 0,24%, giá nước mắm, nước chấm tăng 0,22%, giá các loại đầu và hạt tăng 0,29%, giá quả tươi, chế biến tăng 0,69%, đồ gia vị tăng 1,74%, chè, cà phê, ca cao tăng 0,97%. Nguyên nhân do chi phí nguyên liệu đầu vào và chi phí vận chuyển tăng.
Ở chiều ngược lại, một số mặt hàng giảm giá như:
- Giá trứng các loại giảm 0,55%, giá dầu mở ăn và chất béo khác giảm 0,41%, giá thủy sản tươi sống giảm 1,11% do nguồn cung tăng.
- Giá rau tươi, khô và chế biến giảm 0,39% so tháng trước; giá đường mật giảm 0,26%; giá sữa, bơ, phô mai giảm 0,06%, giá bánh, mứt, kẹo giảm 0,42%. Nguyên nhân chủ yếu do yếu tố mùa vụ và các chương trình khuyến mãi hè.
3. Giá một số hàng hóa, dịch vụ khác:
- Vật liệu xây dựng:
So tháng trước, giá bán mặt hàng vật liệu xây dựng đa số ổn định và giảm nhẹ như thép các loại, cát xây dựng, sơn tường ngoài nhà, gạch xây, bả bột trát tường; riêng cát đen xây lắp, đá dăm gạch lát nền Trung Quốc và công sơn tường tăng nhẹ, trong khi tấm lợp tôn tăng nhiều với 7.000 đồng/m2 (8,58%) do nhu cầu gia cố nhà vào mùa mưa.
- Gas:
Nguồn cung gas nội địa chỉ đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu tiêu dùng nên giá gas trong nước vẫn chịu ảnh hưởng bởi thị trường quốc tế.
Ngày 01 tháng 8 năm 2024, giá gas thế giới ở mức 580 USD/tấn, tăng 7,5 USD/tấn so tháng trước. Theo đó, giá gas tháng 8 điều chỉnh tăng 250 đồng/kg so tháng trước. Cụ thể, giá gas bán lẻ đến tay người tiêu dùng tăng 3.000 đồng/bình 12 kg, phổ biến ở mức 429.000 - 453.000 đồng/bình 12 kg.
- Xăng, dầu:
Trong tháng báo cáo giá xăng dầu có 05 lần điều chỉnh, trong đó có 04 lần giảm (ngày 01 tháng 8 năm 2024, ngày 08 tháng 8 năm 2024, ngày 22 tháng 8 năm 2024, ngày 29 tháng 8 năm 2024 ) và 01 lần tăng (ngày 15 tháng 8 năm 2024).
Cuối tháng báo cáo: giá xăng A95 ở mức 21.100 đồng/lít, xăng E5 ở mức 20.330 đồng/lít; mặt hàng dầu hỏa và dầu diesel lần lượt ở mức 19.060 đồng/lít và 18.470 đồng/lít.
So tháng trước, giá xăng A95 giảm 1.780 đồng/lít, xăng E5 giảm 1.570 đồng/lít; mặt hàng dầu hỏa giảm 1.260 đồng/lít và dầu diesel giảm 1.720 đồng/lít.