Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 năm 2024 giảm 0,22% so tháng trước (tháng 3 năm 2023 tăng 0,04%). Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 5 nhóm giảm, giảm nhiều nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (0,55%); 5 nhóm tăng, tăng cao nhất là nhóm hàng hóa và dịch vụ khác (0,3%); riêng nhóm thuốc và dịch vụ y tế không biến động so tháng trước.
1. Giá lương thực:
So tháng trước, chỉ số giá nhóm lương thực giảm 0,05% (tháng 02 năm 2023 tăng 0,75%) trong đó giá bột mỳ và ngũ cốc khác giảm 2,43%; giá lương thực chế biến tăng 0,33%; giá gạo tăng 0,09% (gạo tẻ thường tăng 0,18%; gạo tẻ ngon giảm 0,02%; gạo nếp giảm 0,45%) do giá gạo thường tiếp tục tăng theo nhu cầu thị trường xuất khẩu, giá gạo ngon và gạo nếp giảm do nhu cầu thị trường trong nước giảm sau dịp Tết Nguyên đán.
So tháng 12 năm trước, chỉ số giá nhóm lương thực tăng 1,24%.
Giá bán các mặt hàng gạo tham gia Chương trình bình ổn thị trường trong tháng 3 ở mức:
- Gạo trắng thường 5% tấm là 16.000đ/kg (không bao bì) và 17.000đ/kg (bao bì PA/PE, túi 5kg, 10kg, 25kg).
- Gạo Jasmine: 17.000đ/kg (không bao bì) và 19.000đ/kg (bao bì PA/PE, túi 5kg).
2. Giá thực phẩm:
Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 1,3% so với tháng trước (tháng 02 năm 2023 tăng 1,75%) do nhu cầu tiêu dùng giảm, chủ yếu tập trung ở một số mặt hàng sau:
+ Giá thịt gia súc giảm 1,26% so tháng trước, trong đó: giá thịt heo giảm 1,74%, thịt bò giảm 0,4%, nội tạng động vật giảm 1,9%, thịt gia súc đông lạnh giảm 1,62%. Theo đó đã làm giá thịt quay, giò, chả giảm 0,72% so tháng trước, trong khi giá thịt hộp tăng 1,53%.
+ Giá thịt gia cầm giảm 1,42% so tháng trước (thịt gà giảm 1,83%, thịt gia cầm khác giảm 0,25%, thịt gia cầm đông lạnh giảm 1,88%).
+ Giá trứng các loại giảm 2,7% so tháng trước do nhu cầu tiêu thụ giảm, các công ty sản xuất bánh giảm công suất sản xuất do đã qua mùa Tết.
+ Giá thủy sản tươi sống giảm 1,95% so tháng trước. Theo đó, giá thủy sản chế biến giảm 1,39% so tháng trước.
+ Giá các loại đậu và hạt giảm 0,35% so tháng trước, rau tươi, khô và chế biến giảm 1,59%, quả tươi, chế biến giảm 4,08%, đồ gia vị giảm 0,27%, đường mật giảm 0,25% do nhu cầu tiêu dùng giảm và yếu tố mùa vụ.
Ở chiều ngược lại, một số mặt hàng tăng giá so tháng trước do giá nguyên liệu đầu vào và chi phí vận chuyển tăng như: nước mắm, nước chấm tăng 0,88%; sữa, bơ, phô mai tăng 0,46%; chè, cà phê, ca cao tăng 0,44%.
So tháng 12 năm trước, chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,08%.
3. Giá một số hàng hóa, dịch vụ khác:
- Vật liệu xây dựng:
So tháng trước, giá bán mặt hàng vật liệu xây dựng đa số ổn định như xi măng, đá các loại, cát xây dựng, gạch các loại, sơn tường, tấm lợp, bả bột trát tường. Riêng thép các loại tăng giảm nhẹ từ 0,13%-0,22%, ngói lợp tăng 0,15% do nhu cầu thị trường tăng; công sơn tường và xây dựng tăng do chi phí nhân công tăng vào tháng nắng nóng.
So tháng 12 năm 2022, giá các mặt hàng vật liệu xây dựng như xi măng tăng 0,77%-2,54%; thép xây dựng tăng 5,07%-7,15%; gạch xây, gạch ống tăng 1,12%; trong khi gạch lát nền giảm 1%, ngói lợp giảm 15,66%.
- Gas:
Ngày 01 tháng 03 năm 2024, giá gas thế giới ở mức 635USD/tấn, bằng với giá tháng trước. Tuy nhiên, do tỷ giá USD tăng nên giá gas tháng 3 điều chỉnh tăng 1.000đ/bình 12kg, 2.000đ/bình 12kg và 8.000đ/bình 45kg
Cụ thể, giá gas bán lẻ đến tay người tiêu dùng phổ biến ở mức 443.000 - 467.000 đồng/bình 12 kg và khoảng 1.771.000 đồng/bình 45 kg.
Như vậy giá gas bán lẻ trong nước đã tăng tháng thứ ba liên tiếp kể từ đầu năm đến nay với tổng mức tăng 13.000 đồng/bình 12kg.
So tháng trước, giá gas tăng 0,48%; So tháng 12 năm 2023, giá gas tăng 2,58%.
- Xăng, dầu:
Trong tháng báo cáo giá xăng dầu được điều chỉnh 04 lần, cụ thể:
+ Lần 01: ngày 07 tháng 3 năm 2024, giá xăng các loại giảm 240-370đ/lít, xăng A95 ở mức 23.550đ/lít, xăng E5 ở mức 22.510đ/lít; mặt hàng dầu hỏa giảm 180đ/lít và dầu diesel giảm 300đ/lít, lần lượt ở mức 20.600đ/lít và 20.470đ/lít.
+ Lần 02: ngày 14 tháng 3 năm 2024, giá xăng các loại giảm 10-20đ/lít, xăng A95 ở mức 23.540đ/lít, xăng E5 ở mức 22.490đ/lít; mặt hàng dầu hỏa tăng 100đ/lít và dầu diesel tăng 170đ/lít, lần lượt ở mức 20.700đ/lít và 20.540đ/lít.
+ Lần 03: ngày 21 tháng 3 năm 2024, giá xăng các loại giảm 270-300đ/lít, xăng A95 ở mức 23.030đ/lít, xăng E5 ở mức 22.020đ/lít; mặt hàng dầu hỏa giảm 1250đ/lít và dầu diesel giảm 120đ/lít, lần lượt ở mức 19.460đ/lít và 19.300đ/lít.
+ Lần 04: ngày 28 tháng 3 năm 2024, giá xăng các loại tăng 720-740đ/lít, xăng A95 ở mức 24.280đ/lít, xăng E5 ở mức 23.210đ/lít; mặt hàng dầu hỏa tăng 560đ/lít và dầu diesel tăng 470đ/lít, lần lượt ở mức 21.260đ/lít và 21.010đ/lít.
So tháng trước, giá dầu giảm 0,63%, giá xăng tăng 0,79%.
So tháng 12 năm 2023, giá dầu tăng 3,53%, giá xăng tăng 4,8%.