SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
6
8
1
2
2
5
5

Tiêu đề

Tình hình giá cả thị trường thành phố tháng 9 và quý III năm 2023 

Tháng

09 

Năm

2023 

Tổng quan

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 năm 2023 tăng 0,56% so tháng trước.

1. Giá lương thực:       

Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 2,44% so tháng trước (tháng 9 năm 2022 tăng 0,04%) chủ yếu do giá gạo tăng 3,73%, giá bột mì và ngũ cốc khác tăng 0,38%, lương thực chế biến tăng 0,37%. Giá gạo tiếp tục tăng trong thời gian qua do Ấn Độ áp thuế xuất khẩu 20% đối với gạo đồ đã làm giá gạo xuất khẩu tăng kéo theo giá gạo trong nước.

So tháng 12 năm 2022, nhóm lương thực tăng 7,09% (cùng kỳ năm 2022 tăng 3,32%) chủ yếu một số mặt hàng gạo các loại tăng 3,91%-12,68%, bột mỳ đóng gói tăng 3,01%-6,62%, mỳ ăn liền, phở ăn liền tăng 0,78%-3,93% do giá nguyên liệu và bao bì tăng.

So tháng trước, giá các mặt hàng gạo nếp, gạo tẻ tăng 3,31%-5,71%.

Giá bán các mặt hàng gạo tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2023 và Tết Giáp Thìn năm 2024 hiện ở mức:

- Gạo trắng thường 5% tấm là 16.000đ/kg (không bao bì) và 17.000đ/kg (bao bì PA/PE, túi 5kg, 10kg, 25kg).

- Gạo Jasmine: 17.000đ/kg (không bao bì) và 19.000đ/kg (bao bì PA/PE, túi 5kg).

2. Giá thực phẩm:

Chỉ số giá thực phẩm tăng 0,1% so tháng trước (tháng 9 năm 2022 tăng 0,08%), chủ yếu do:

+ Giá thịt chế biến tăng 0,74%; giá thịt quay, giò, chả tăng 0,78%; thịt hộp tăng 0,81% do chi phí đầu vào tăng.

+ Giá thủy sản tươi sống tăng 0,26%, giá thủy sản chế biến tăng 0,36% do điều kiện thời tiết không thuận lợi đã ảnh hưởng đến việc đánh bắt của ngư dân.

+ Giá nước mắm, nước chấm tăng 1,09%; giá bánh, mứt, kẹo tăng 0,18%; giá chè, cà phê, ca cao tăng 0,09% do chi phí nguyên liệu đầu vào và vận chuyển tăng.

+ Giá rau tươi, khô và chế biến tăng 0,87%; giá quả tươi, chế biến tăng 1,18%. Do yếu tố thời tiết có nhiều mưa đã ảnh hưởng đến năng suất một số loại rau, quả cùng với đó là nhu cầu sử dụng nhiều rau, quả cho các món chay trong tháng Vu Lan báo hiếu.

+ Một số mặt hàng tăng giá so tháng trước như: thịt gia cầm tăng 0,23%; trứng các loại tăng 0,16%; ... do chi phí chăn nuôi, vận chuyển tăng khiến nhiều người chăn nuôi gặp khó nên thu hẹp quy mô dẫn đến nguồn cung giảm.

Ở chiều ngược lại, các nhóm hàng giảm giá so với tháng trước: thịt gia súc giảm 0,53%; dầu mỡ ăn và chất béo khác giảm 0,49%; các loại đậu và hạt giảm 0,53%; đồ gia vị giảm 0,39%; sữa, bơ, phô mai giảm 0,40%; ... do nhu cầu giảm.

So tháng 12 năm 2022, nhóm thực phẩm giảm 0,02% (cùng kỳ năm 2022 tăng 3,32%) chủ yếu do một số mặt hàng thịt gia súc giảm 1,01%-4,7%; thực phẩm chế biến giảm 1%-2,77%; trứng gia cầm giảm 2,79%-7,31%; dầu ăn giảm 0,256%-2,91%; tôm nuôi nước ngọt giảm 7,01%...

3. Giá một số hàng hóa, dịch vụ khác:

- Vật liệu xây dựng:

So tháng trước, giá bán mặt hàng vật liệu xây dựng như cát đen san lấp, cát vàng xây dựng 0,2%-0,36%, thép các loại giảm 0,6%-1,06%, các mặt hàng còn lại như xi măng, đá dăm, cát đen xây dựng, sơn tường, gạch xây, gạch lát nền, gạch bê tông, tấm lợp, ngói lợp, bột trát tường ổn định.

So tháng 12 năm 2022, giá các mặt hàng vật liệu xây dựng tăng 1,12-11,05%, riêng thép cây giảm 0,52%, sơn tường 0,98%- 4,33%, gạch lát nền giảm 1%, ngói lợp giảm 7,17%.

- Gas:

Ngày 01 tháng 9 năm 2023, giá gas thế giới tăng 90USD/tấn so tháng trước, hiện ở mức 555USD/tấn. Theo đó, kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2023, giá bán lẻ gas trong nước cũng đã được điều chỉnh tăng 2.750đồng/kg gas so với tháng trước, tương đương tăng khoảng 33.000đ/bình 12 kg.

Như vậy, giá gas đã có tháng thứ hai tăng liên tiếp sau các tháng giảm. Dự báo giá gas có thể tiếp tục tăng vào các tháng cuối năm do nhu cầu nhiên liệu dự trữ cho mùa đông.

Tính từ đầu năm đến nay, giá gas trong nước có 5 lần giảm (tháng 1, tháng 3, tháng 4, tháng 6 và tháng 7) và 4 lần tăng (tháng 2, tháng 5, tháng 8 và tháng 9).

So tháng trước, giá gas tăng 8,85%; so tháng 12 năm 2022, giá gas giảm 5,42%.

- Xăng, dầu:

Trong tháng báo cáo giá xăng dầu có 3 đợt điều chỉnh, cụ thể:

+ Lần 01: ngày 05 tháng 9 năm 2023, giá xăng các loại tăng 170-270đ/lít, xăng A95 ở mức 24.870đ/lít, xăng E5 ở mức 23.470đ/lít; mặt hàng dầu hỏa tăng 510đ/lít và dầu diesel tăng 290đ/lít, lần lượt ở mức 22.810đ/lít và 22.640đ/lít.

+ Lần 02: ngày 11 tháng 9 năm 2023, giá xăng các loại ổn định, xăng A95 ở mức 24.870đ/lít, xăng E5 ở mức 23.470đ/lít; mặt hàng dầu hỏa tăng 1.000đ/lít và dầu diesel tăng 410đ/lít, lần lượt ở mức 23.810đ/lít và 23.050đ/lít.

+ Lần 03: ngày 21 tháng 9 năm 2023, giá xăng các loại tăng 720-870đ/lít, xăng A95 ở mức 25.740đ/lít, xăng E5 ở mức 24.190đ/lít; mặt hàng dầu hỏa ổn định, trong khi dầu diesel tăng 540đ/lít, lần lượt ở mức 23.810đ/lít và 23.590đ/lít.

So tháng trước, giá xăng dầu tăng 3,17%-8,12%.

So tháng 12 năm 2022, giá xăng tăng 13,94%-15,85%, giá dầu tăng 2,63%-3,22%.

Dự đoán tình hình giá cả thị trường trong tháng tới

1. Chương trình bình ổn thị trường trên địa bàn Thành phố:

Căn cứ Quyết định số 962/QĐ-UBND ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Ủy ban nhân dân thành phố về Kế hoạch thực hiện Chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu, các mặt hàng phục vụ học tập năm 2023 – Tết Giáp Thìn năm 2024 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Trên cơ sở đó, Sở Tài chính đã chủ động theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình giá thị trường nhất là các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu để kịp thời nắm thông tin thị trường, xử lý và tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố các biện pháp quản lý giá trong trường hợp có biến động, điều chỉnh kịp thời và chính xác đối với mức giá đăng ký của doanh nghiệp tham gia các Chương trình bình ổn thị trường.

Đồng thời, thực hiện Nghị định số 44/2023/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 6 năm 2023 về quy định chính sách giảm thuế giá trị gia tăng theo Nghị quyết số 101/2023/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2023 của Quốc Hội.

Sở Tài chính đã có Công văn số 4748/STC-QLG ngày 18/7/2023, Công văn số 4797/STC-QLG và 4799/STC-QLG ngày 20/7/2023 đề nghị các doanh nghiệp rà soát danh mục hàng hoá tham gia Chương trình Bình ổn thị trường trên địa bàn Thành phố, thực hiện điều chỉnh giảm giá và gửi mức giá điều chỉnh về Sở Tài chính tổng hợp, theo dõi.

- Chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng lương thực thực phẩm thiết yếu:

Từ khi bắt đầu Chương trình (01/4/2023) đến nay, Sở Tài chính đã tiến hành 03 lần điều chỉnh giá: 01 lần điều chỉnh giá đối với mặt hàng thịt gia cầm và tương ớt, tương cà, nước mắm, nước tương; 01 lần điều chỉnh giá mặt hàng thịt heo; 01 lần điều chỉnh giá mặt hàng gạo, đường ăn.

Hiện nay, qua so sánh với giá bình quân của các chợ bán lẻ trên địa bàn Thành phố, các chợ trong mạng lưới báo giá của Sở Tài chính và giá tại các kênh siêu thị trên thị trường, giá bán hầu hết của các doanh nghiệp tham gia Chương trình bình ổn thị trường mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu đều đảm bảo tiêu chí tại Điểm 2a Điều 9 Quyết định số 4556/QĐ-UBND ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban nhân dân Thành phố về ban hành Quy chế triển khai Chương trình bình ổn thị trường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể: giá gạo thấp hơn giá thị trường 6%; đường ăn thấp hơn 7,6%; dầu ăn thấp hơn 9,5%; thịt gia cầm thấp hơn 6,9-21,4%, thịt heo thấp hơn 6,6-11,9%; trứng gia cầm thấp hơn  6,5-7,5%.

- Chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng sữa: Tháng 7 năm 2023  thực hiện điều chỉnh giảm giá so với giá đăng ký ngày 01/4/2023 do giảm thuế GTGT theo Nghị định số 44/2023/NĐ-CP.

- Chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng phục vụ học tập năm học 2023-2024: 01 lần điều chỉnh tăng so với giá đăng ký 01/4/2023, mức giá áp dụng từ ngày 05/5/2023.

Tháng 7 năm 2023 thực hiện điều chỉnh giảm giá so với giá áp dụng ngày 05/5/2023 do giảm thuế GTGT theo Nghị định số 44/2023/NĐ-CP.

2. Công tác tiếp nhận văn bản kê khai giá:

Thực hiện theo Thông tư số 233/2016/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2016 của Bộ Tài chính Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 56/2014/TT-BTC ngày 28 tháng 4 năm 2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 177/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giá, Thông báo số 215/TB-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố ngày 13 tháng 12 năm 2022 về ban hành danh sách tổ chức, cá nhân thực hiện kê khai giá trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Trong tháng 09 năm 2023, Sở Tài chính đã hướng dẫn, tiếp nhận 56 hồ sơ kê khai giá và 16 thông báo giá, trong đó: 07 hồ sơ kê khai và 08 thông báo giảm giá xi măng; 02 hồ sơ kê khai và 04 thông báo giảm giá thép xây dựng; 02 hồ sơ kê khai và 04 thông báo giá phân bón hóa học (có tăng, có giảm); 09 hồ sơ kê khai tăng giá mặt hàng khí hóa lỏng (gas); 05 hồ sơ kê khai và 01 thông báo giá thức ăn chăn nuôi (có tăng, có giảm); 11 hồ sơ kê khai và 01 thông báo giá vacxin phòng bệnh cho gia súc, thuốc thú y (có tăng, có giảm); 01 hồ sơ kê khai và 01 thông báo tăng giá mặt hàng đường ăn; 01 hồ sơ kê khai tăng giá mặt hàng thọc, gạo; 01 hồ sơ kê khai tăng giá dịch vụ quản lý chợ; 01 hồ sơ kê khai giá sản phẩm mới của mặt hàng than; 13 hồ sơ kê khai và 03 thông báo biến động giá của hệ thống siêu thị (tăng, giảm theo chương trình khuyến mãi của nhà cung cấp).

- Tại Ủy ban nhân dân các quận huyện và thành phố Thủ Đức: Ủy ban nhân dân Quận 11 tiếp nhận 05 văn bản kê khai giá, Ủy ban nhân dân Quận Tân Bình tiếp nhận 01 văn bản kê khai giá, Ủy ban nhân dân Quận Bình Tân tiếp nhận 08 văn bản kê khai giá, Ủy ban nhân dân Quận Tân Phú tiếp nhận 03 văn bản kê khai giá, Ủy ban nhân dân TP Thủ Đức tiếp nhận 01 văn bản kê khai giá, các quận huyện còn lại không phát sinh số liệu báo cáo.

Như vậy, trong quý III năm 2023:

- Sở Tài chính đã hướng dẫn, tiếp nhận 138 hồ sơ kê khai giá và 39 thông báo giá.

- Đối với Ủy ban nhân dân các quận huyện và TP Thủ Đức: tiếp nhận 184 hồ sơ kê khai giá và 11 văn bản thông báo giá. 

ItemStatus

ReadCounter

 
Tệp đính kèm
Đã tạo vào thời điểm 06/10/2023 3:45 CH  bởi NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN 
Được sửa tại 06/10/2023 3:45 CH  bởi NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN