Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4 năm 2023 giảm 0,11% so tháng trước.
1. Giá lương thực:
Chỉ số giá lương thực tăng 0,18% so tháng trước (tháng 04 năm 2022 tăng 0,19%) chủ yếu do giá gạo tẻ, bột mì, bánh đa, miến, mì ăn liền, ngũ cốc tăng; trong khi gạo nếp, bún tươi, bắp, khoai, sắn giảm.
Giá bán các mặt hàng gạo tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2023 và Tết Giáp Thìn năm 2024 hiện ở mức:
- Gạo trắng thường 5% tấm là 14.500đ/kg (không bao bì) và 15.500đ/kg (bao bì PA/PE, túi 5kg, 10kg, 25kg).
- Gạo Jasmine: 15.500đ/kg (không bao bì) và 17.000đ/kg (bao bì PA/PE, túi 5kg).
2. Giá thực phẩm:
Chỉ số giá thực phẩm giảm 0,5% so tháng trước (tháng 04 năm 2022 giảm 0,1%) chủ yếu do :
+ Giá các sản phẩm chăn nuôi giảm do nhu cầu tiêu thụ giảm như trứng các loại giảm 0,9%, dầu mỡ và chất béo giảm 0,75%,
+ Giá rau tươi, khô và chế biến giảm 2,61%; quả tươi và chế biến giảm 0,73% do yếu tố thời vụ nguồn cung dồi dào, trong đó: giá cà chua giảm 21,95%; su hào giảm 4,98%; bắp cải giảm 4,73%, xoài giảm 5,9%.
+ Đường mật giảm 0,94%; sữa, bơ, phô mai giảm 0,45%; bánh, mứt, kẹo giảm 0,34% do nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm.
Ở chiều ngược lại, do nhu cầu thị trường và giá nguyên liệu đầu vào, chi phí dịch vụ tăng làm cho giá một số nhóm mặt hàng tăng so với tháng trước, cụ thể: chè, cà phê, ca cao tăng 0,27%.
- Thịt heo:
Tại thời điểm báo cáo (ngày 21 tháng 4 năm 2023) giá thịt heo nhìn chung tăng so tháng trước. Giá heo hơi tăng 2.000đ/kg so tháng trước, heo hơi loại 1 hiện ở mức 54.000đ/kg và heo hơi loại 2 ở mức 49.500đ/kg. Giá heo bên loại ngon giảm 1.000đ/kg ở mức 62.000đ/kg, heo bên loại thường tăng 2.000đ/kg lên 58.000đ/kg; so tháng trước, thịt đùi, sườn non, chân giò, ba rọi ổn định; thịt cốt lếch và nạc dăm tăng 2.000-8.000đ/kg.
Giá bán lẻ các mặt hàng thịt heo đa số giảm từ 0,51%-1,63% so tháng trước do nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm.
Giá bán các mặt hàng thịt gia súc tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2023 và Tết Giáp Thìn năm 2024: thịt heo đùi 108.000đ/kg, thịt vai 122.000đ/kg, thịt cốt lết 126.000đ/kg, chân giò 110.000đ/kg, thịt nách 118.000đ/kg, thịt nạc (vai, đùi) 153.000đ/kg, xương đuôi heo 98.000đ/kg, xương bộ heo 76.000đ/kg.
- Thịt bò
So tháng trước, giá bán lẻ mặt hàng thịt bò tăng từ 2.000-4.000đ/kg (1,15-1,54%) như thịt bò thăn, bò mông, bò bắp; trong khi thịt bò đông lạnh giá ổn định.
- Thịt gia cầm:
Tại chợ đầu mối Bình Điền, lượng hàng về chợ dao động từ 6,3-8,8 tấn/ngày, tăng 18,9% so tháng trước, sức mua tăng nhẹ so tháng trước.
Giá bán sỉ các mặt hàng gia cầm ổn định so tháng trước. Hiện ở mức: cánh gà nhập khẩu 60.000đ/kg, gà tam hoàng nguyên con 63.000đ/kg, gà công nghiệp nguyên con 40.000đ/kg, vịt nguyên con 60.000đ/kg; đùi gà nhập khẩu ở mức 45.000đ/kg, đùi gà nóng 65.000đ/kg, cánh gà nóng 63.000đ/kg.
Giá bán lẻ các mặt hàng gia cầm tăng nhẹ 2.000-3.000đ/ kg so tháng trước; trong đó, giá thịt gia cầm tươi sống (thịt nóng) tăng, thịt gia cầm nhập khẩu giảm.
Giá các mặt hàng thịt gia cầm tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2023 và Tết Giáp Thìn năm 2024 ở mức: thịt gà ta 90.000đ/kg, thịt gà thả vườn 67.000đ/kg, thịt gà công nghiệp nguyên con 45.000đ/kg, thịt vịt 68.000đ/kg, đùi gà công nghiệp góc tư 42.000đ/kg (Ba Huân), ức gà công nghiệp 42.000đ/kg (Ba Huân), phi lê ức gà 55.000đ/kg (Long Bình), cánh gà 70.000đ/kg (Long Bình).
- Trứng gia cầm:
Giá bán lẻ trứng gia cầm trên thị trường tương đối ổn định so tháng trước, tại thời điểm báo cáo, trứng gà loại 1 ở mức 32.000-35.000đ/chục, trứng vịt loại 1 ở mức 37.000-41.000đ/chục.
Giá các mặt hàng trứng gia cầm tham gia Chương trình bình ổn thị trường năm 2023 và Tết Giáp Thìn năm 2024 ở mức: trứng gà loại 1 là 33.500đ/vĩ, giá trứng vịt loại 1 là 38.500đ/vĩ.
- Thủy hải sản:
Lượng thủy hải sản tươi bình quân 945-1226 tấn/ngày, tăng 11,9% so tháng trước.
So tháng trước, giá bán buôn nhiều mặt hàng thủy hải sản tăng giảm từ 5.000-10.000đ/kg như cá thu, cá nục, cá điêu hồng, cá hú, cá rô, tôm, mực.....giảm do nguồn cung dồi dào; trong khi giá các mặt hàng như cá ngân, cá ngừ, cá bạc má, cá kèo, cá thác lát, lươn, cua, ghẹ.....tăng; giá các loại cá nhập khẩu như cá tầm, cá mú, cá nục bông, mực ống Đài Loan giảm, các mặt hàng còn lại ổn định so tháng trước
So tháng trước, giá bán lẻ các mặt hàng thủy hải sản tươi sống tăng giảm tương tự giá bán buôn, tập trung tăng giá ở các mặt hàng như cá biển, tôm, mực, riêng giá các loại thả nuôi như cá lóc, cá điêu hồng, cá trê, tép giảm so tháng trước.
Lượng thủy hải sản khô về chợ từ 4,1-5,6 tấn/ngày, tăng 9,8% so tháng trước, giá bán buôn các mặt hàng thủy hải sản khô ổn định so tháng trước.
- Rau, củ, quả, trái cây:
Lượng rau củ quả về chợ đầu mối Bình Điền dao động từ 983-1210 tấn/ngày, chợ đầu mối Hóc Môn dao động từ 1.399-1937tấn/ngày, chợ đầu mối Thủ Đức dao động từ 1.612-1.790tấn/ngày.
So tháng trước, giá bán buôn nhiều loại rau, củ, trái cây đa số giảm phổ biến từ 3.000-8.000đ/kg như su su, củ dền, bí đỏ, khổ qua, dưa leo, cà chua, đậu bắp, cam, xoài, đu đủ giảm; trong khi tần ô, xà lách, củ cải, củ sắn, dưa hấu, nấm tăng so tháng trước.
So tháng trước, giá bán lẻ bình quân tháng báo cáo các mặt hàng rau, củ quả, trái cây đa số tăng giảm tương tự giá bán buôn; trong đó, khổ qua, dưa leo, bí đỏ, măng, chuối, dưa hấu, thanh long tăng; cà chua, cải ngọt, cải xanh, cà rốt, khoai tây, cam, xoài, quýt,..... giảm so tháng trước.
3. Giá một số hàng hóa, dịch vụ khác:
- Vật liệu xây dựng:
So tháng trước giá các mặt hàng vật liệu xây dựng như đá dăm, thép các loại, ngói lợp, sơn tường tăng 0,08-9,28%; trong khi xi măng, cát xây dựng, tấm lợp, công xây tường, công sơn tường, công lát gạch giảm 0,18-2,86%; các mặt hàng còn lại giá ổn định.
- Gas:
Ngày 01 tháng 4 năm 2023, giá gas thế giới giảm 180 USD/tấn so tháng trước, hiện ở mức 550USD/tấn. Theo đó, kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2023, giá bán lẻ gas trong nước cũng đã điều chỉnh giảm khoảng 58.000đ/bình 12 kg so với tháng trước.
Cụ thể, giá gas bán lẻ đến tay người tiêu dùng 414.000 đồng/bình 12kg.
- Xăng, dầu:
Trong tháng báo cáo giá xăng dầu được điều chỉnh 03 lần, cụ thể:
+ Lần 01: ngày 03 tháng 4 năm 2023, giá xăng các loại tăng 60-90đ/lít, xăng A95 ở mức 23.120đ/lít, xăng E5 ở mức 22.080đ/lít; mặt hàng dầu hỏa giảm 430đ/lít và dầu diesel tăng 130đ/lít, lần lượt ở mức 29.030đ/lít và 19.430đ/lít.
+ Lần 02: ngày 11 tháng 4 năm 2023, giá xăng các loại tăng 1090-1120đ/lít, xăng A95 ở mức 24.240đ/lít, xăng E5 ở mức 23.170đ/lít; mặt hàng dầu hỏa tăng 700đ/lít và dầu diesel tăng 710đ/lít, lần lượt ở mức 19.730đ/lít và 20.140đ/lít.
+ Lần 03: ngày 21 tháng 4 năm 2023, giá xăng các loại giảm 490-610đ/lít, xăng A95 ở mức 23.630đ/lít, xăng E5 ở mức 22.680đ/lít; mặt hàng dầu hỏa giảm 250đ/lít và dầu diesel giảm 750đ/lít, lần lượt ở mức 19.480đ/lít và 19.390đ/lít.